Th Bn T Thut

Thánh I-Nhă Loyola

 

 

 

 

 

 

Lời Tựa ...............................................................................................3

 

Chương 1 - Tĩnh Dưỡng và Hoán Cải 1521-1522 ................................5

 

Chương 2 - Hiệp Sĩ của Thánh Mẫu Monserrate 1522 .........................8

 

Chương 3 - Chúa Dạy I-Nhă tại Manrêsa 1522-1523 ........................10

 

Chương 4 - Hành Hương Thánh Địa 1523 ..........................................16

 

Chương 5 - Đường Trở Về 1523-1524 ..............................................20

 

Chương 6 - Ngày Học tại Barcelôna và Alcala 1524-1527 .................22

 

Chương 7 - Bị Điệu Ra Ṭa tại Salamanca 1527 .................................26

 

Chương 8 - Đại Học & Những Người Bạn Tiên Khởi 1528-1535 .......29

 

Chương 9 - Về Thăm Quê Nhà 1535 .................................................33

 

Chương 10 - Chờ Đợi Hành Hương Đất Thánh 1535-1537 ................35

 

Chương 11 - Kinh Thành Muôn Thủa Roma 1538 ..............................37

 

 

- do cha Hoàng Văn Lục, S.J. dịch -

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người Lữ Hành Thành Loyola

- Thủ Bản Tự Thuật -

của Thánh I-Nhă Loyola

 

 

            Lời tựa của Cha Luis Goncalves Da Camara

 

1.  Vào buổi sáng thứ sáu ngày 4 tháng 8 năm 1553, trước ngày lễ Đức Mẹ Xuống Tuyết, khi Cha I-Nhă đang ở trong vườn gần nhà gọi là 'nhà công tước.' Tôi tŕnh bày với Cha một số vấn đề của tâm hồn, trong đó có vấn đề ham danh. Để giúp tôi giải quyết vấn đề đó, Cha khuyên tôi: nên nhiều lần qui về Chúa tất cả những ǵ tôi có và dâng cho Chúa tất cả những ǵ tốt đẹp có thể có trong đời tôi, và cảm tạ Chúa với nhận thức rằng tất cả các ân huệ đó thuộc về Ngài. Nghe Cha nói, tôi được an ủi nhiều. Không cầm nổi nước mắt, Cha kể lại chuyện chính Cha suốt hai năm đă phải đau khổ v́ tật xấu này, đến độ lúc sắp sửa lên tầu ở Barcelôna để đi Giêrusalem, Cha không dám nói với ai Cha sắp đi đâu. Cha nói thêm rằng, về điểm đó, từ lúc ấy trở về sau Cha thấy tâm hồn hết sức b́nh thản.

            Một hai tiếng đồng hồ sau chúng tôi đi dùng cơm. Đang khi ngồi bàn ăn, có Cha I-Nhă, Cha Polancô và tôi, Cha nói rằng: Cha Nadal và nhiều Cha khác trong Ḍng đă nhiều lần xin Cha làm một công việc mà Cha chưa quyết định làm. Tuy nhiên, sau khi đă nói chuyện với tôi và cầm trí một lúc trong pḥng, Cha cảm thấy được thúc dục và xác tín đến độ Cha đă nhất quyết phải làm (theo cách Cha nói th́ thấy Thiên Chúa đă soi sáng rơ ràng cho Cha phải làm việc đó!).  Đó là việc tŕnh bày những ǵ xảy đến trong tâm hồn Cha từ xưa đến nay. Cha cũng đă quyết định tôi là người sẽ được Cha tiết lộ những việc đó.

 

2.  Hồi đó Cha đau rất nặng. Thường th́ ngài không dám tính sẽ sống thêm được một ngày. Khi nghe người ta nói: “Tôi sẽ làm việc này trong ṿng hai tuần lễ hoặc tám ngày,” th́ Cha thường tỏ vẻ ngạc nhiên và hỏi: “Vậy hả, anh chắc sẽ sống được đến ngày đó sao?” Tuy nhiên, lần đó ngài nói rằng ngài hy vọng sống thêm được ba bốn tháng nữa để hoàn tất công việc đó. Ngày hôm sau tôi hỏi Cha xem ngài muốn chừng nào bắt đầu? Cha bảo tôi phải nhắc Cha mỗi ngày, cho đến khi Cha có sức khỏe và giờ rảnh để bắt tay vào việc. Nhưng v́ bận rộn nhiều việc và không có th́ giờ rảnh, nên Cha lại bảo tôi phải nhắc ngài mỗi Chúa Nhật. Vào tháng chín Cha gọi tôi, và bắt đầu kể chuyện về cuộc đời ngài và các lỗi lầm của thời thanh niên một cách rơ ràng, rành mạch, không bỏ xót một chi tiết nào. Cũng trong tháng đó, Cha lại gọi tôi ba, bốn lần nữa và kể chuyện đến khúc nói rằng Cha định ở lại Manrêsa ít hôm, từ đoạn đó thấy chữ tôi viết có vẻ khác trước.

 

3.  Cách thức Cha kể chuyện th́ giống như cách Cha làm mọi việc khác. Nghĩa là hết sức rơ ràng, khiến cho những công việc xảy ra trong quá khứ có vẻ như đang xảy ra bây giờ. Hơn nữa không cần phải hỏi ngài điều ǵ. Bởi v́ cần ǵ để hiểu rơ câu chuyện th́ Cha nhớ và nói hết. Không nói ǵ cho Cha biết, tôi biên chép tất cả, trước hết là những điểm chính, rồi sau mới viết lại đầy đủ hơn, đó là bản văn đang có đây. Tôi đă cố gắng tránh không viết chữ nào mà Cha đă không dùng.  Chỉ sợ thất bại ở một điểm: là khi cố gắng trung thành chép lại các lời Cha nói, đôi khi tôi đă không làm nổi bật được một vài lời nói của Cha.

            Như vậy, tôi đă soạn tài liệu này kể từ tháng 9 năm 1553 như đă kể trên. Từ đó cho đến khi Cha Nadal về, tức là ngày 18 tháng 10 năm 1554, Cha I-Nhă hay xin hoăn lại v́ đau yếu hoặc v́ bận viêc nọ việc kia. Cha thường nói: “Việc này xong th́ con lại nhắc Cha nhá!”  Khi xong việc rồi, tôi nhắc Cha, nhưng Cha lại bảo: “Bây giờ bận việc này nữa, xong rồi th́ con nhớ nhắc Cha lại.”

 

4.  Lúc về nhà, thấy công việc đă bắt đầu rồi, Cha Nadal mừng lắm, và bảo tôi phải luôn luôn nhắc Cha I-Nhă. Ngài c̣n nói nhiều lần với tôi rằng bây giờ không có việc ǵ quí hơn mà Cha I-Nhă có thể làm cho Ḍng, v́ đó là góp phần vào việc thành lập Ḍng. Chính ngài đă nhiều lần nói với Cha I-Nhă như thế, và Cha I-Nhă bảo tôi, khi nào xong về vụ t́m nguồn lợi để thành lập truờng rồi th́ tôi nhắc Cha lại.  Nhưng vụ đó xong rồi, th́ lại phải chờ cho hết vụ về Prester John, và lại c̣n việc gửi thư từ cho xong.

      Vậy, chúng tôi lại tiếp tục công việc và bắt đầu vào ngày mùng 9 tháng 3. Ít lâu sau, Đức Thánh Cha Giuliô III bắt đầu nguy tử và ngày 23 th́ băng hà. Vậy Cha hoăn lại công việc đó cho đến khi có Đức Thánh Cha mới. Khi có rồi (tức là Đức Giáo Hoàng Marcelô), th́ Đức Thánh Cha mới cũng lại đau và băng hà nữa. Cha lại phải hoăn đến khi tấn phong Giáo Hoàng Phaolô IV. Sau đó v́ trời nóng bức và bận rộn nhiều việc nên Cha bị trở ngại cho đến ngày 21 tháng 9 là khi Cha bắt đầu định sai tôi đi Tây Ban Nha. Tôi nài nỉ ngài giữ lời hứa với tôi, th́ ngài hẹn gặp tôi vào sáng ngày 22 tại Tháp Đỏ. Lễ xong tôi đến hỏi Cha xem đă đến giờ chưa.

 

5.  Ngài bảo tôi đi Tháp Đỏ trước chờ ngài đến sau. Tôi đoán chắc phải chờ lâu. Đang khi đứng ngoài sân nói chuyện với một trợ sĩ đă hỏi tôi một điều ǵ đó, th́ Cha đến và trách tại sao không vâng lời chờ Cha tại Tháp Đỏ. Rồi suốt ngày hôm đó Cha không muốn nói ǵ. Về sau chúng tôi lại năn nỉ, th́ Cha tới Tháp Đỏ và lại tiếp tục kể chuyện, vừa kể vừa đi lại như các lần trước. Muốn quan sát bộ mặt của Cha tôi hay tới gần ngài, th́ ngài bảo: “Hăy giữ luật.” Một lúc sau, quên lời dặn tôi lại đến gần Cha, hai, ba lần ngài lập lại lời đó rồi bỏ luôn. Nhưng cuối cùng Cha trở về Tháp Đỏ rồi kể chuyện tiếp. Tuy nhiên, v́ từ mấy hôm trước tôi đang chuẩn bị lên đường - Cha đă gặp tôi kẻ chuyện lần chót là ngày trước khi tôi đi - nên không thể viết ra đây đủ tại Roma được. Tôi đem theo bản tóm tắt, và tại Genova, v́ không có người viết chữ Tây Ban Nha, nên tôi đọc bằng tiếng Ư Đại Lợi.

 

Tài liệu này được viết xong tại Genova, tháng 12 năm 1555.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 1

Tĩnh Dưỡng và Hoán Cải

1521 - 1522

 

1.  Từ thời niên thiếu cho đến năm 26 tuổi, I-Nhă chỉ lo chạy theo những chuyện vớ vẩn của người đời, đặc biệt ham mê vơ thuật và ao ước được danh tiếng trước mặt người ta.

            Một hôm đang khi bị quân Pháp bao vây thành Pamplôna, tất cả mọi người đều đồng ư đầu hàng để thoát chết, v́ thấy không thể nào chống cự lại được. Nhưng I-Nhă đưa ra mọi lư lẽ và thuyết phục được vị chỉ huy trưởng là cứ chống trả. Dù không mấy đồng ư, tất cả các sĩ quan thấy khí phách của I-Nhă cũng lấy làm vững tâm hơn.  Đến ngày tấn công, trước khi giao chiến, I-Nhă xưng tội với một người đồng đội. Trận đánh kéo dài một lúc lâu th́ I-Nhă bị trúng đạn, một chân bị gẫy và chân kia cũng bị thương khá nặng.

 

2.  Thấy I-Nhă ngă gục, lập tức cả đơn vị trong thành đầu hàng.  Sau khi chiếm được thành, quân Pháp đối sử tử tế với I-Nhă. Sau khi lưu lại tại Pamplona độ mười lăm ngày, họ đặt ông trên một cái cáng và khiêng về đến tận nhà ở thành Loyola.

            Thấy I-Nhă nằm lâu ngày và đau rất nặng, người nhà đă nhờ nhiều y sĩ khắp vùng đến chữa trị. Họ thấy nguyên nhân chưa khỏi v́ xương chân của ông chưa được ráp lại đúng chỗ, và họ quyết định mổ chân lại một lần nữa. Thế là I-Nhă bị làm thịt lần thứ hai. Suốt cuộc giải phẫu, cũng như lần trước, và lần sau đó nữa, I-Nhă không hề thốt ra một tiếng nào, chỉ thấy ông nắm chặt hai bàn tay v́ đau điếng.

 

3.  T́nh trạng sức khoẻ càng ngày càng trầm trọng, I-Nhă không thể ăn ống được ǵ và có những triệu chứng sắp chết. Vài ngày trước lễ Thánh Gioan, v́ các y sĩ không mấy hy vọng I-Nhă sẽ thoát chết, nên người nhà đề nghị ông xưng tội. Sau khi nhận các bí tích rồi, trước ngày lễ Thánh Phêrô và Phaolô, các y sĩ nói rằng, nếu trước nửa đêm không thấy dấu hiệu nào cho thấy bệnh nhân khá hơn, th́ coi như chắc chắn sẽ chết. I-Nhă thường sùng kính Thánh Phaolô, nhờ ơn Chúa, vào đúng nửa đêm, bệnh nhân cảm thấy bớt đau, và ngày hôm sau th́ hết nguy hiểm.

 

4.  Dần dần các miếng xương dính lại với nhau, nhưng dưới đầu gối lại thấy có một miếng khác ḷi ra trên miếng kia, khiến chân bị rút ngắn lại và có một cái g̣ trông rất khó coi. V́ đă quyết tâm theo hư danh thế gian, nên I-Nhă hỏi y sĩ có thể cắt bớt miếng xương xấu xí kia được không. Họ trả lời có thể được nhưng sẽ đau đớn hơn lần trước, v́ xương đă lành rồi và việc cưa bớt lại rất công phu. Thế là I-Nhă quyết định chịu cực h́nh chỉ v́ thích như thế. Nghe vậy, ông anh hết hồn bảo rằng, chính ông dù khoẻ mạnh cũng không dám chịu đau đớn ngần ấy. Thế mà I-Nhă đă chịu được như mấy lần trước.

 

5.  Sau khi cắt bớt miếng thịt và cưa xương, để chân khỏi rút ngắn quá, suốt ngày các y sĩ đă xoa nhiều thứ thuốc và kéo chân dài ra bằng các thứ dụng cụ hành hạ bệnh nhân. Tuy nhiên, Chúa ban cho I-Nhă lấy lại sức khoẻ, dù chân vẫn chưa đi được khiến bệnh nhân phải nằm giường.

            Không thể làm ǵ được, nhưng thấy khoẻ mạnh I-Nhă xin người nhà đem đến mấy cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp đọc chơi cho đỡ buồn, v́ ông mê đọc những chuyện phù phiếm viển vông này. Nhưng v́ trong nhà không có cuốn tiểu thuyết nào, nên người nhà mang cho ông một cuốn sánh nhan đề: “Cuộc Đời Chúa Kitô” và cuốn “Đời Sống Các Thánh” viết bằng tiếng Tây Ban Nha.

 

6.  Đọc đi đọc lại, đôi khi I-Nhă cảm thấy thích thú. Lâu lâu bỏ sách xuống một bên, ông suy nghĩ đến những ǵ đă đọc, có khi lại nghĩ sang những chuyện mà ông thường hay nghĩ. Trong số những chuyện vớ vẩn này, có một chuyện thu hút ông đến độ ông mơ màng suốt ba bốn tiếng đồng hồ liền mà không hay. Ông tưởng tượng đến những công việc mà ông sẽ thực hiện để hầu hạ một tiểu thơ kia, rồi cách thức để đi đến nơi nàng ở, những bài thơ và những lời lẽ ông sẽ nói với nàng, và cả những trận đánh thắng quân thù để dâng tặng nàng. Ông say mê và tự phụ quá, nên thấy rằng những việc như thế không thể nào không thực hiện nổi. V́ nàng không phải là một bá tuớc hay công tước phu nhân, nhưng chắc c̣n phải c̣n cao sang hơn thế nữa!

 

7.  Tuy nhiên Thiên Chúa soi sáng giúp I-Nhă bỏ rơi những chuyện tưởng tượng đó và nghĩ đến những ǵ ông đang đọc trong sách. Đọc về Cuộc Đời Chúa và các Thánh, thỉnh thoảng ông dừng lại và tự hỏi ḿnh: “Giá mà tôi cũng làm được những việc như Thánh Phanxicô (thành Assisi) hay Thánh Đa-Minh đă làm th́ sao?” Như thế, ông suy niệm về nhiều việc lành có thể làm được, cũng không thấy khó khăn cho lắm! Mỗi lần như thế, ông lại tự nhủ: “Thánh Phanxicô đă làm việc này th́ tôi cũng phải làm được! Thánh Đa-Minh đă làm được việc kia th́ tôi cũng phải làm!” 

            Hai loại tư tưởng trên gây ra những phản ứng khác nhau. Lúc nghĩ đến chuyện đời, I-Nhă cảm thấy rất thích thú, nhưng khi hết nghĩ đến th́ ông cảm thấy khô khan và trống rỗng. Trái lại, lúc nghĩ đến việc đi chân không đến Đất Thánh, không ăn uống ǵ trừ rau cỏ và sống khắc khổ như các Thánh đă sống th́ ông cảm thấy rất phấn khởi, không những trong lúc nghĩ đến, mà cả khi hết c̣n nghĩ đến nữa, ông vẫn cảm thấy vui và hài ḷng.

 

8.  Lúc bấy giờ ông chưa để ư phân tích kỹ các phản ứng khác nhau đó. Cho tới khi nhận ra, th́ ông lấy làm lạ! Suy nghĩ và tự hỏi tại sao sau khi nghĩ đến việc này th́ thấy buồn, nhưng sau khi nghĩ đến việc kia lại thấy vui. Như thế, ông mới khám phá ra hai phản ứng khác nhau và ảnh hưởng trên tâm hồn: một thứ do ma quỉ bày ra, c̣n một thứ khác do Thiên Chúa soi sáng.

 

9.  Nhờ đọc sách và cảm nhận được cuộc đời ḿnh dưới một luồng sáng mới, I-Nhă ư thức cần phải ăn năn hối cải. Từ đó ông cảm thấy có ư muốn noi guơng các Thánh, muốn làm những ǵ y hệt như các Thánh đă làm, nhờ ơn Chúa giúp. Có một việc ông muốn làm trên hết: đó là khi nào khoẻ mạnh lại, ông sẽ đi tận Giêrusalem đồng thời tự đánh tội và nhịn ăn với tất cả ḷng sốt mến của một tâm hồn hăng say.

 

10. Nhờ ư muốn Thánh thiện này, các chuyện phù phiếm kia dần dần bị quên lăng, và I-Nhă được củng cố tinh thần bởi một thị kiến thiêng liêng như sau:

            Một đêm kia khi thức giấc, ông nh́n thấy h́nh dạng Đức Mẹ với Chúa Hài Đồng trong một lúc lâu. Nhờ xem thấy h́nh ảnh đó, ông cảm thấy tâm hồn phấn khởi lạ thường, đồng thời ghê tởm tất cả quăng đời quá khứ, đặc biệt là những đam mê xác thịt. Ông có cảm tưởng tất cả những h́nh ảnh cũ bị tẩy xoá trong tâm hồn. Từ giây phút đó trở đi (cho đến tháng 8 năm 1553 khi cuốn sách nầy được viết), không một lần nào ông nghĩ đến các đam mê xác thịt mà lấy làm thích thú nữa. Với kết quả như thế, th́ chắc là thị kiến do Chúa mà đến, mặc dù I-Nhă chưa dám định quả quyết, nhưng chỉ kể chuyện đă xảy ra thôi. Tuy nhiên, ông anh và tất cả mọi người trong nhà nh́n thấy cách thức cư xử bên ngoài, đều nhận thấy được rằng I-Nhă đang thay đổi bên trong.

 

11. Tuy nhiên, ông cứ điềm nhiên tiếp tục đọc sách và nghĩ đến những việc ông sẽ làm. Mỗi lần nói chuyện với người trong nhà, ông chỉ nói đến Chúa để giúp đỡ họ. V́ đọc sách thiêng liêng thấy có ích lợi, I-Nhă nẩy ư muốn chép một số đoạn chính trong đời sống của Chúa và các Thánh. Ông lấy một tập vở và bắt đầu biên chép các đoạn sách. Lời Chúa ông viết bằng mực đỏ, lời Đức Mẹ ông viết bằng mực xanh rất cẩn thận. Giấy th́ láng và có hàng kẻ, chữ th́ đẹp v́ I-Nhă viết chữ đẹp. Suốt ngày I-Nhă chỉ lo chép sách và cầu nguyện.  Ông thấy phấn khởi, nhất là khi nh́n lên bầu trời và các v́ sao. Nh́n nhiều lần và nh́n rất lâu, nhờ đó mà ông cảm thấy đủ nghị lực để phục vụ Chúa. Ông hay nghĩ đến dự tính đi Giêrusalem, và mong chóng được b́nh phục để lên đường.

 

12. Ông dự tính thêm sau khi đi Giêrusalem về, ông sẽ sống khắc khổ tại một đan viện khổ tu ở Sevilla. Ông sẽ giấu tên để khỏi được kính nể và ông sẽ chỉ ăn rău cỏ mà thôi. Nhưng sau đó lại nghĩ có thể sống khắc khổ khi đi khắp thiên hạ, th́ lại cảm thấy không c̣n muốn dừng chân tại đan viện, v́ e rằng sẽ không được phép tự hành hạ ḿnh đủ. Dù vậy khi sắp sửa lên đường đi tới Burgos, ông đă nhờ một người ở hỏi dùm luật lệ ở đan viện, và ông thấy hài ḷng. Tuy nhiên v́ những lư do nói trên, và v́ lúc bấy giờ ông chỉ nghĩ đến việc sắp sửa ra đi, c̣n việc vào đan viện th́ khi nào về mới tính, nên không mấy để ư đến!

            V́ thấy tạm khoẻ lại rồi và có thể lên đường được, I-Nhă nói với ông anh: “Thưa anh, Công Tước Najera, như anh biết, đă hay tin em khỏi rồi. 'Có lẽ em nên đi thăm ông hiện đang ở Navarrete.'” Ông anh đă đưa I-Nhă đi vào một pḥng, rồi tiếp đến sang pḥng thứ hai, và với tất cả niềm tŕu mến, cố gắng thuyết phục em đừng lao ḿnh vào một cuộc phiên lưu nguy hiểm. Ông nhắc nhở I-Nhă rằng: “Bao nhiêu người đang tin tưởng em, bao nhiêu công việc cao trọng em có thể làm,” và c̣n thêm nhiều lời lẽ tương tự với mục đích thuyết phục I-Nhă bỏ ư định tốt đẹp. I-Nhă trả lời khéo, dù không nói dối, bởi v́ về điểm này ông thường rất cẩn thận, và cuối ông cũng tránh né và từ giă được ông anh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 2

Hiệp Sĩ của Thánh Mẫu ở Monserrate

1522

 

13. Thế là I-Nhă cưỡi một con la cái lên đường với một người anh, tới tỉnh Onate, gần đó có nhà thờ Đức Mẹ là nơi hành hương, dọc đường I-Nhă thuyết phục người anh vui ḷng ghé nhà thờ, thức đêm cầu nguyện để lấy sức mạnh tinh thần mà đi tiếp. Sáng hôm sau hai người chia tay, người anh tới thăm một người chị ở Onate và I-Nhă lên đường đi Navarete.

            Tới nơi, và nhớ ra rằng nhà người công tước mắc nợ người một số tiền, th́ I-Nhă viết giấy xin lănh số tiền đó. Người thủ quĩ trả lời là lúc bấy giờ không đủ tiền để trả. Nghe như thế, ông công tước bảo viên thủ quĩ thiếu tiền ai th́ thiếu, chứ trả cho một người ḍng họ Loyola, th́ không thể nào thiếu được. Hơn nữa ông công tước c̣n muốn ban cho I-Nhă chức quan phó, gọi là để tưởng nhớ công lao trong quá khứ. Lănh tiền rồi, I-Nhă chia một phần cho một số người đă có công với ông, phần c̣n lại ông đưa người ta tu bổ và trang hoàng thêm một tượng Đức Mẹ đă bị hư hại. Xong việc, I-Nhă cho hai người ở ra về và cưỡi la rời Navarrete hướng về Monserrate.

 

14. Trên đoạn đường này, có xảy ra một việc cần được tŕnh bày để thấy cách thức Chúa hướng dẫn tâm hồn I-Nhă, một tâm hồn vẫn thô sơ, mặc dù rất ước ao được biết cách thức để phục vụ Chúa. Xin nhắc lại I-Nhă đă quyết tâm sống khắc khổ với mục đích làm đẹp ḷng Chúa, hơn là chuộc tội. Khi nhớ đến một việc khổ hạnh các Thánh đă thực hiện, I Nhă quyết định làm theo, và c̣n có ư định sẽ làm khổ hơn thế nữa. Mỗi lần quyết định như vậy, ông cảm thấy an vui, nhưng chưa biết phân tích các động lực trong tâm hồn, ông cũng không hiểu các nhân đức khiêm nhường, bác ái, kiên nhẫn là ǵ, nhất là đức khôn ngoan chỉ dẫn các nhân đức kia. Ông chỉ muốn thực hiện các công việc lớn lao bởi v́ các Thánh đă làm như thế cho sáng danh Chúa, chứ ông không hề bận tâm xét đến hoàn cảnh đặc biệt trong đời sống các Thánh.

 

15. Vậy khi I-Nhă đang đi trên đường th́ một người Mauri cỡi la theo kịp. Hai người vừa đi vừa nói chuyện với nhau, từ chuyện này bắt sang chuyện khác, cuối cùng họ nói về Đức Mẹ. Người Mauri đồng ư Đức Mẹ mang thai không do người đàn ông, nhưng không tin dù sinh con Đức Mẹ vẫn c̣n đồng trinh. Người Lữ Khách đưa ra nhiều bằng cớ nhưng vẫn không thể nào làm cho người Mauri bỏ lập trường nghịch đạo của ḿnh.

            Bỗng người Mauri vọt tới trước và I-Nhă không c̣n thấy người đó nữa. Người lữ khách bắt đầu suy nghĩ đến cuộc nói chuyện với người Mauri vừa qua. Trong thâm tâm, ông cảm thấy bất măn với chính ḿnh, v́ cho rằng đă không làm đủ bổn phận, đồng thời cảm thấy nổi giận v́ cho rằng đáng lư ông không thể chịu một người Mauri nói những điều chướng tai về Đức Mẹ như thế, và ông nghĩ ḿnh có bổn phận dàn xếp chuyện này. Ông đă tính chạy theo người Mauri cầm dao găm đâm hắn mấy cái v́ những lời lẽ hắn đă nói. Nhưng ông do dự một lúc lâu, không biết bổn phận đ̣i hỏi ông nên làm ǵ. Trước khi vọt tới trước, người Mauri đă nói rằng hắn sẽ đi đến một làng xa hơn một chút, gần đường chính rẽ sang con đường phụ.

 

16. V́ không biết quyết định ra sao, nên I-Nhă thả cương con la để nó đi tự do tới ngă ba: nếu con la quặt vào đường phụ, ông sẽ kiếm người Mauri và sẽ đâm hắn, c̣n nếu nó tiếp tục đi trên con đường chính, th́ ông sẽ bỏ qua. Mặc dù làng nằm ngay bên cạnh đường chính, chỉ cách xa khoảng bốn chục bước, và đường đi tới làng th́ tốt và rộng hơn đường chính, nhưng Chúa đă khiến con lừa bỏ con đường làng, và tiếp tục đi vào con đường chính.

            Tới một làng khá lớn trước khi tới Monserrate, I-Nhă dừng lại, mua một cái áo thô để mặc trên đường đi Giêrusalem. Người mua thứ vải làm bao, loại thưa có nhiều gai, và nhờ người ta may một cái áo dài tới chân. Người mua thêm cây gậy đi hành hương, một cái bầu đựng nước và treo tất cả lên cốt yên la. Người c̣n mua đôi giầy vải và chỉ đi một chiếc ở chân đau thôi, không phải để lập dị nhưng v́ chân này c̣n phải băng bó, mặc dù cưỡi la, đến tối th́ thấy sưng lên, chân đó mới phải đi giầy.

 

17. I-Nhă lại lên đường đi tới Monserrate và như thường lệ, ông suy nghĩ đến những việc phi thường ông sẽ làm để phục vụ Chúa. V́ trí tưởng tượng c̣n đầy những h́nh ảnh thấy trong sách kể chuyện các hiệp sĩ, ông nẩy ư bắt chước họ và quyết định cởi bỏ quần áo thường mặc và mang huy hiệu Chúa Kitô, canh thức suốt đêm trước bàn thờ Đức Mẹ tại Monserrate, không ngồi, không nằm, nhưng đứng hoặc quỳ, y như một hiệp sĩ.

            Ông vừa cỡi la, vừa suy nghĩ đến ư định ông sẽ thực hiện. Tới nhà thờ Monseratte, sau khi cầu nguyện, và bàn hỏi với một Cha linh hướng, trong ba ngày I-Nhă viết ra mọi tội lỗi trên một tờ giấy rồi xưng tội. Ông c̣n điều đ́nh với Cha linh hướng cho đan viện giữ lại con la, c̣n cái gươm và con dao găm th́ ông treo trên bàn thờ Đức Mẹ. Trước đó I-Nhă chưa tŕnh bày ư định cho linh mục nào biết; đây là người đầu tiên biết câu chuyện.

 

18. Vào buổi tối ngày hôm trước lễ Đức Mẹ Truyền Tin tháng 3 năm 1522, I-Nhă lén lút đi t́m một người nghèo. T́m được rồi, ông cởi quần áo ra và đưa cho anh ta, mặc áo thô như đă ước ao, trở về nhà thờ qú gối trước bàn thờ Đức Mẹ và thức suốt đêm khi qú, khi đứng, gậy cầm trên tay!

            Sáng sớm hôm sau để người ta khỏi nhận ra, và v́ sợ gặp nhiều người quen kính nể, ông không đi đường tới thẳng Bacelôna, nhưng đi đường ṿng quanh tới một phố nhỏ tên là Manrêsa. Ông tính sẽ ở lại đó vài ngày trọ tại nhà thương thí, để ghi chép một số ư tưởng vào một tập vở mà ông luôn đem theo và giữ ǵn cẩn thận; tập vở này nâng đỡ tinh thần ông rất nhiều.

            Đi khỏi Monserrate chừng một trăm dặm, I-Nhă thấy một người chạy theo hỏi có phải ông đă đem quần áo cho một người nghèo, như anh này nói không. I-Nhă trả lời có và rưng rưng nước mắt thương xót người nghèo v́ thấy người ta làm khó dễ anh, nghi ngờ anh ăn cắp.

            Dù I-Nhă đă hết sức cẩn thận để tránh người ta tôn kính, nhưng sau một thời gian không lâu, họ bắt đầu đồn đăi về công việc ông làm tại Monserrate. Danh tiếng ông tràn ra và thổi phồng lên vượt xa sự thật, rằng ông đă từ bỏ bao nhiêu là lợi lộc, v.v.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 3

Chúa Dạy I-Nhă tại Manrêsa

1522 - 1523

 

19. Tại Manrêsa, mỗi ngày I-Nhă đi ăn xin, không ăn thịt và uống rượu dù người ta vẫn cho. Vào ngày chủ nhật th́ ông không ăn Chay và uống chút rượu, nếu có ai cho. V́ trước kia, ông thường chăm sóc mái tóc rất cẩn thận theo thời trang, nay I-Nhă quyết định để tóc mọc lên tự nhiên, không cắt không chải và cũng không thay đổi ǵ ngày cũng như đêm. Về móng tay và móng chân cũng vậy, v́ trước kia đă săn sóc kỹ lưỡng, nên bây giờ không cắt và không ngó ngàng tới nữa.

            Tại nhà thương thí, nơi ông trọ, đă nhiều lần giữa ban ngày I-Nhă thấy ở gần ḿnh, trên không trung một h́nh bóng hết sức hấp dẫn làm cho ông rất phấn khởi. Ông không thấy rơ nó có h́nh dạng ǵ nhưng có vẻ giống một con rắn với nhiều chấm lấp lánh như là những mắt của nó, dù đó không phải là mắt. Thấy h́nh dạng này I-Nhă rất lấy làm thích thú và phấn chấn, càng thấy nhiều th́ lại càng cảm khích nhưng lúc nó biến mất th́ lại thấy buồn chán.

 

20. Trước kia chưa có kinh nghiệm về đời sống thiêng liêng nội tâm, I-Nhă vẫn b́nh an và luôn luôn vui vẻ. Trong những ngày ông thấy h́nh bóng kia th́ h́nh như một thời gian trước khi nó bắt đầu, I-Nhă bị dày ṿ mănh liệt v́ một tư tưởng nảy sinh trong tâm hồn. Người thấy cả cuộc đời ḿnh cực khổ và h́nh như có ai nói trong thâm tâm: 'Làm sao anh có thể chịu đựng một cuộc đời cực khổ như thế này suốt 70 năm c̣n lại trong đời anh?' Tuy nhiên, hiểu rằng đó là tiếng nói thù địch, I-Nhă rất cương quyết trả lời trong thâm tâm: 'Đồ khốn nạn, mày làm ǵ bảo đảm tao sống được thêm một tiếng đồng hồ nữa?'

            Thế là ông thoát được cơn thử thách và t́m lại được b́nh an. Đó là lần đầu tiên ông gặp thử thách sau khi thay đổi cuộc sống. Chuyện này xảy ra trong khi đang vào nhà thờ nơi ông đi dự lễ hát, giờ kinh chiều và kinh tối cử hành trọng thể, ông đă tham dự sốt sắng và rất lấy làm phấn khởi. Khi đi xem lễ hằng ngày, ông thường đọc gẫm bài Thương Khó và được an vui trong ḷng.

 

21. Tuy nhiên sau cuộc thử thách kể trên, I Nhă bắt đầu cảm nghiệm sự thay đổi trong tâm hồn, có khi cảm thấy khô khan, không c̣n thấy thích dự lễ hay đọc kinh nữa. Đôi khi bất th́nh ĺnh ông cảm thấy ngược lại và có cảm tưởng là sự khô khan và buồn phiền được cất đi như khi người ta cởi áo choàng ra. Thấy sự thay đổi đó, mà từ xưa đến giờ chưa bao giờ xảy đến, I-Nhă tự hỏi: 'Cuộc đời mới này làm sao đây?'

            Hồi đó, tại Manrêsa có một bà rất già về số tuổi cũng như về số năm phục vụ Chúa. Khắp cả Tây Ban Nha ai cũng biết tiếng, cả vua công giáo (danh hiệu là hoàng đế Carlos V) đă từng mời vào yết kiến. Một hôm đang đàm dạo với lính mới của Chúa, bà nói với ông: 'Ước ǵ một ngày nào, Chúa tôi, Đức Giêsu Kitô sẽ hiện ra cho chú!' Hiểu câu nói theo nghĩa đen, I-Nhă kinh ngạc trả lời: 'Lẽ nào Đức Kitô lại hiện ra cho cháu?' Cứ một tuần I-Nhă xưng tội và rước Ḿnh Thánh Chúa một lần.

 

22. Tuy nhiên trong đời sống thiêng liêng, I-Nhă đă phải khổ sở rất nhiều v́ ḷng bối rối. Mặc dù tại Monserrate đă xưng tội phạm suốt đời rất cẩn thận sau khi viết tất cả trên giấy như đă kể trên. Đôi khi I-Nhă vẫn cảm thấy đă quên không xưng vài tội, do đó ông rất khổ tâm. Mặc dù xưng tội lại lần nữa, vẫn chưa thấy hài ḷng. Ông đi t́m vài người đạo đức có thể giúp ông chữa trị tâm trạng bối rối nhưng không có cách nào thoát khỏi. Cuối cùng một linh mục giáo sư hay giảng tại nhà thờ chính toà, và là một người đạo đức đă bảo ông trong toà giải tội là cứ viết ra tất cả những ǵ nhớ được. I-Nhă đă làm như vậy, nhưng sau khi xưng tội rồi th́ cơn bối rối lại c̣n phức tạp hơn nữa, khiến ông phải rất khổ sở.

            Mặc dù ư thức ḷng bối rối gây hại cho ḿnh, và nên vượt qua t́nh trạng đó, ông cũng không làm sao thoát khỏi. Đôi khi ông nghĩ cách chữa trị là nhờ Cha linh hướng nhân danh Chúa Kitô ra lệnh đừng xưng lại tội cũ nữa, nhưng lại không dám đề nghị với Cha linh hướng như thế.

 

23. Tuy nhiên, mặc dù không đề nghị, Cha linh hướng ra lệnh đừng xưng lại các tội cũ nữa, trừ khi nhớ tội nào rơ ràng. Nhưng đối với ông tội nào cũng nhớ rơ ràng lắm, cho nên lệnh đó hoàn toàn vô hiệu quả và ông vẫn cảm thấy khổ sở.

            Hồi đó I-Nhă ở trong một pḥng nhỏ mà các Cha Đa-Minh đă dành cho ông trong tu viện, mỗi ngày ông qú gối cầu nguyện suốt bảy tiếng đồng hồ, nửa đêm thức dậy và tiếp tục tất cả các việc đạo đức tŕnh bày trên. Tuy nhiên, những việc đó không giải quyết được ḷng bối rối đă gây khổ sở cho ông trong nhiều tháng.

            Một hôm quá khổ tâm đang khi cầu nguyện sốt sắng, I-Nhă rên rỉ lớn tiếng cầu cùng Thiên Chúa: 'Lạy Chúa, xin Chúa cứu thoát con v́ con không t́m thấy giải pháp nhờ loài người hay bất cứ cái ǵ khác. Nếu hy vọng t́m được, con sẵn sàng chịu mọi cực khổ không tiếc. Xin Chúa chỉ cho con t́m ra giải pháp, dù phải chạy theo một con chó con để nó giúp con t́m thấy, con cũng sẵn sàng chạy!'

 

24. Khi bận tâm với những tư tưởng đó, nhiều lần I-Nhă bị cám dỗ kịch liệt muốn tự tử bằng cách lao ḿnh xuống vực thẳm qua một lỗ lớn trên tường pḥng ở gần nơi ông quỳ gối cầu nguyện. Nhưng biết việc tự tử là tội, ông lại kêu lớn tiếng rằng: 'Lạy Chúa, con không muốn làm điều ǵ mất ḷng Chúa.' Rất nhiều lần ông lặp lại câu đó, cũng như những lời nói trước. Một hôm, ông nhớ lại một vị Thánh rất ao ước được Chúa ban cho một ân huệ nào đó, th́ đă nhịn ăn nhiều ngày cho đến khi được ơn ấy. Sau khi đă suy nghĩ một lúc lâu, ông đă quyết định làm như vậy cho tới khi Chúa giúp ông, hoặc đến khi sắp chếât đói, ông sẽ xin bánh ḿ ăn.

 

25. Đó là vào một ngày Chúa Nhật sau khi rước Ḿnh Thánh Chúa. Suốt cả tuần, ông giữ ư định không ăn uống ǵ hết mà vẫn tiếp tục cầu nguyện như thường, dự các lễ nghi ở nhà thờ, qú gối cầu nguyện và thức dậy lúc nửa đêm. Vào Chúa Nhật sau là ngày xưng tội, v́ có thói quen kể cho Cha linh hướng nghe chi tiết các việc ông làm, ông có tŕnh bày vụ nhịn ăn cả tuần qua, Cha linh hướng ra lệnh cho ông chấm dứt vụ nhịn ăn. Mặc dù thấy khoẻ mạnh, I-Nhă cũng vâng theo. Ngày hôm đó cũng như ngày hôm sau thấy thoát khỏi cảnh bối rối. Nhưng ngày kế tiếp, tức ngày thứ Ba đang khi cầu nguyện, lại nhớ đến từng tội cũ, từ tội này đến tội khác, như khi xâu vật ǵ vào dây, và cảm thấy phải xưng tội đó lại một lần nữa. Sau những tư tưởng đó, lại cảm thấy chán ngấy đời sống khắc khổ và ao ước dứt khoát bỏ cuộc luôn.

            Nhưng lúc đó, Chúa thương giúp ông tỉnh trí khỏi ác mộng. Nhờ Chúa đă dậy vài bài học và cho thu lượm kinh nghiệm về cách thức nhận định các thần loại khác nhau, I-Nhă bắt đầu phân tích các tư tưởng vừa qua từ đâu mà đến, và cuối cùng dứt khoát không c̣n xưng tội cũ nữa. Từ ngày hôm đó, I-Nhă thoát được cơn bối rối và xác tín rằng chính ḷng thương xót của Chúa đă cứu thoát ông.

 

26. Ngoài việc cầu nguyện suốt bảy tiếng đồng hồ mỗi ngày, I-Nhă dùng thời giờ để giúp đỡ những người ông đến thăm để nói chuyện về đời sống thiêng liêng. Thời giờ c̣n lại trong ngày, ông nghĩ đến Thiên Chúa và nhớ lại những điều đă đă suy gẫm hoặc đọc trong sách.

            Khi sắp sửa đi nghỉ, nhiều lần ông khám phá ra những điều mới lạ, có những an vui thiêng liêng, thành ra hay mất những giờ ngủ đă quá ngắn ngủi rồi! Đôi khi suy nghĩ về việc trên, ông thấy đă dùng những giờ nhất định để kết hợp với Thiên Chúa rồi, lại c̣n nhiều giờ khác trong ngày nữa. Do đó, ông nghi ngờ các tư tưởng thiêng liêng trên không bắt nguồn từ một thần tốt và kết luận không nên để ư tới nó nữa, nhưng tốt hơn là ngủ theo những giờ giấc đă quyết định. I-Nhă vẫn kiêng thịt và quyết định không ăn thịt v́ bất cứ lư do nào. Nhưng một buổi sáng, khi mới thức dậy ông thấy rơ ràng trước mắt ông một miếng thịt, mặc dù trước đó không hề nghĩ đến thịt, đồng thời ông ư thức từ nay sẽ sẵn sàng ăn thịt trở lại.

 

27. Mặc dù nhớ rơ sự cam kết dứt khoát kiêng thịt, lần này không thể nghi ngờ phải quyết định ăn thịt trở lại. Sau đó tŕnh bày vấn đề trên cho Cha linh hướng, th́ Cha bảo nên xét xem ư định đó có phải là do ma quỉ cám dỗ chăng. Và sau khi phân tích ư định rơ ràng, I-Nhă thấy rơ, không thể nào nghi ngờ quyết định điều đó là phải.

            Hồi đó Chúa đối sử với I-Nhă như thày giáo dạy học tṛ. Có lẽ v́ I-Nhă c̣n chậm hiểu thô độn, hoặc v́ không có ai hướng dẫn, hoặc v́ chính Chúa đă ban cho ông ư muốn phụng sự Thiên Chúa. Ông tin tưởng và không nghi ngời chính Chúa muốn đối xử với ông như vậy. Và nếu nghi ngờ điều đó, ông cho là xúc phạm đến Thiên Chúa cao cả. Điều đó có thể thấy được qua năm bằng chứng sau đây:

 

28. Thứ Nhất: Ông rất sùng kính Ba Ngôi Chí Thánh. Mỗi lần I-Nhă cầu nguyện từng ngôi, nhưng v́ cũng cầu nguyện cả Ba Ngôi cùng một lúc, nên ông hay tự hỏi Thiên Chúa có Ba Ngôi, sao lại cầu nguyện tới bốn lần? Tuy nhiên, v́ cho đó là một thắc mắc không đáng kể, nên ông ít bận tâm đến.

            Một hôm đang đứng trên bậc thang nhà thờ Thánh Đa Minh đọc giờ kinh Đức Mẹ, trí tuệ của ông được nâng cao hầu như nh́n thấy Ba Ngôi thiên Chúa Chí Thánh dưới h́nh thức ba phím đàn, khiến ông rớt nước mắt đến độ không c̣n cử động nổi. Sáng hôm đó ông theo đám rước kiệu từ trong nhà thờ đi ra, và suốt buổi sáng đến giờ cơm, ông không thể nói chuyện về đề tài nào khác trừ Ba Ngôi Chí Thánh, bằng nhiều ví dụ và câu ví khác nhau, ḷng tràn ngập hạnh phúc và an vui. Từ đó đến suốt đời, mỗi lần cầu nguyện cùng Ba Ngôi Chí Thánh, ông cảm thấy phấn khởi và hết ḷng sùng kính.

 

29. Thứ Hai: Một hôm hiện ra trong trí I-Nhă về cách thức Chúa đă tạo tác nên muôn vật, khiến ông cảm thấy sung sướng tâm hồn. Ông có cảm tưởng nh́n ra một vật trắng, từ đó có những tia sáng tỏa ra, như Thiên Chúa dùng vật đó để tạo thành ánh sáng. Tuy nhiên ông cũng không biết cách giải thích những điều đó, và không nhớ rơ được những hiểu biết thiêng liêng mà Thiên Chúa đă in vào tâm hồn ông.

 

      Thứ Ba: Sau khi ở lại Manrêsa chừng độ một năm, được Thiên Chúa nâng đỡ và hướng dẫn một số linh hồn có kết quả khả quan, I-Nhă lại bỏ bớt những h́nh thức khắc khổ quá mức, rồi cắt móng tay, móng chân và cắt tóc trở lại.

            Một hôm đang khi xem lễ ở một nhà thờ trong tu viện (vẫn ở Manrêsa) vào lúc linh mục nâng Ḿnh Thánh Chúa lên, ông thấy bằng mắt tâm hồn vài tia sáng từ trên cao xuống. Trong nhiều năm, ông vẫn không giải thích được hiện tượng đó, tuy nhiên những ǵ ông thấy rơ bằng trí tuệ, đó là cách thức Chúa Kitô, Chúa chúng ta hiện diện trong bí tích chí thánh.

 

      Thứ Tư: Nhiều lần đang khi cầu nguyện, mỗi lần trong một lúc khá lâu, I-Nhă đă thấy bằng mắt tâm hồn, nhân tính của Chúa Kitô. Đó là h́nh ảnh một thân thể trắng tinh, vóc dáng trung b́nh không phân biệt rơ chân tay. Tại Manrêsa, ông đă thấy h́nh ảnh đó rất nhiều lần, nếu nói là hai mươi lần đến bốn mươi lần, th́ không dám cho là sự thật. Ông đă thấy h́nh đó một lần nữa tại Giêrusalem và một lần khác nữa trên đường đi tới Pađôva. Ông c̣n thấy Đức Mẹ dưới h́nh thức tương tự không phân biệt rơ chân tay.

            Tất cả những điều ông thấy đă củng cố đức tin của ông đến độ ông nghĩ bụng: Mặc dù không có Thánh kinh dạy những chân lư ấy và chỉ dựa trên h́nh ảnh ông đă thấy, ông vẫn sẵn sàng từ bỏ mạng sống để bênh vực các chân lư đó.

 

30. Thứ Năm: Một hôm ông đi đến một nhà thờ, cách Manrêsa chừng một dặm để cầu nguyện. Trên con đường song song với một con sông, h́nh như đó là nhà thờ Thánh Phaolô, ông vừa đi vừa đọc kinh, rồi lại ngồi xuống, mắt hướng về con sông chảy dưới thung lũng.

      Đang khi ngồi tại đó, mắt tâm hồn ông dần dần mở ra. Mặc dù không thấy h́nh ảnh nào, ông đă am tường nhiều điều, vừa thuộc đức tin vừa văn hoá, dưới một luồng sáng rực rỡ khiến mọi điều trở nên mới mẻ. Không thể tŕnh bày chi tiết những điều ông đă lĩnh hội được lúc đó, mặc dù rất nhiều, chỉ biết rằng ông đă hiểu những điều đó hết sức rơ ràng. Nếu tính chung, tất cả những điều Chúa đă ban và những điều ông đă học hỏi suốt cả cuộc đời, tức là 62 năm qua, ông cảm thấy nó không bằng những điều ông đă lĩnh hội trong lúc đó.

 

31. Sau khi hiện tượng trên kéo dài được một lúc lâu, I-Nhă qú gối trước một thập giá gần đó để cảm tạ Thiên Chúa. Lúc đó ông lại nh́n thấy h́nh bóng mà ông đă thấy nhiều lần trước mà chưa hiểu rơ, tức là h́nh bóng có vẻ rất đẹp và có nhiều mắt. Nhưng lần này đang lúc qú gối trước thập giá, ông thấy rơ ràng h́nh bóng đó không có nhiều màu sắc đẹp đẽ như những lần trước, và hiểu biết hết sức rơ rệt, cũng như xác tín cương quyết đó là ma quỉ. Sau đó nhiều lần h́nh trên lại hiện ra trong một lúc lâu, nhưng I-Nhă khinh chê và xua đuổi nó bằng cây gậy mà ông thường cầm nơi tay.

 

32. Một hôm tại Manrêsa I-Nhă bị sốt nặng tưởng sắp chết. Ông có cảm tưởng rơ rệt linh hồn sắp ĺa khỏi xác. Lúc đó một tư tưởng hiện ra trong đầu óc rằng, ông là người công chính. Ông cảm thấy rất đau buồn và chỉ lo chống lại tư tưởng đó. Nhưng mặc dù cố gắng hết sức, ông không tài nào đánh bại được nó. Khi cơn sốt đă bớt phần nào và không c̣n nguy hiểm nữa, ông bắt đầu kêu lớn tiếng cho một số các bà thường đến thăm ông, và ông yêu cầu họ v́ t́nh thương của Thiên Chúa, lần sau khi thấy ông sắp chết, xin các bà kêu lớn tiếng bên tai ông: “Đồ đầy tội lỗi!” để giúp ông nhớ lại các tội lỗi đă phạm đến Chúa.

 

33. Vào một dịp khác, đang đi tàu biển từ Valencia tới Italia, một cơn băo nổi lên, bánh lái tàu bị găy. Theo I-Nhă cũng như nhiều người khác trên tàu, nếu không có phép lạ th́ không thể nào thoát chết được. Trong khi đang xét ḿnh ăn năn tội và dọn ḿnh chết, I-Nhă không quá sợ sệt tội lỗi ḿnh và không sợ mất linh hồn, nhưng ông cảm thấy xấu hổ và đau buồn v́ xét thấy đă không xử dụng đúng cách những ân huệ mà Thiên Chúa đă ban cho.

            Một lần khác nữa, hồi năm 1550 I-Nhă cũng đau rất nặng, theo ư ông, cũng như nhiều người khác th́ khó thoát chết. Lần đó nghĩ ḿnh sắp chết, I-Nhă vui mừng đến độ chảy nước mắt ḍng ḍng trong một lúc lâu, có khi lại phải thôi không dám nghĩ đến sự chết nữa, để bớt phấn khởi quá mức như thế.

     

34. Vào đầu mùa đông I-Nhă bị bệnh nặng, nhà chức trách địa phương chở ông vào nhà thân sinh của một ông tên là Ferrere và họ săn sóc rất chu đáo. Nhiều bà có địa vị đến gác đêm v́ kính phục ông. Dù khỏi bệnh, nhưng ông vẫn c̣n rất yếu và hay đau dạ dày. V́ thế, cũng như v́ mùa đông năm ấy lạnh lắm, người ta cho ông áo ấm, giầy và nón. Vậy ông lấy hai cái áo ấm, tấm vải thô và một cái nón trùm đầu cũng làm bằng thứ vải đó. Thời đó, từ lâu ông ao ước được gặp những người đạo đức để trao đổi về những vấn đề thiêng liêng. Nhưng rồi sắp đến ngày I-Nhă lên đường đi Giêrusalem.

 

35. Vào đầu năm 1523, ông lên đường đi tới Barcelôna để lên tàu. Mặc dù một số người đă t́nh nguyện đi với ông cho có bạn, nhưng ông quyết định đi một ḿnh. Một hôm có vài người nài ép ông nhận làm bạn đi đường, v́ ông không biết tiếng Ư và cũng không biết tiếng La-Tinh nữa. Họ cố thuyết phục ông để thấy có lợi như thế nào và có thể giúp đỡ ông ra sao. Ông trả lời, dù ngay cả con của công tước Carđôna xin đi theo, ông cũng không chấp nhận. V́ ông muốn thử tập ba nhân đức: tức là đức mến, đức tin và đức cậy. Nếu đem theo một người bạn, khi đói sẽ nhờ người đó giúp đỡ, lúc ngă sẽ nhờ người đó nâng lên, và như thế, ông sẽ tin cậy và thương mến người đó. Trong khi ông chỉ muốn tin cậy và yêu mến vào một ḿnh Chúa mà thôi. Những điều này, I-Nhă không chỉ nói ra miệng, nhưng c̣n xác tín trong ḷng nữa.

            Với những tư tưởng đó, ông có ư định không những đi một ḿnh mà c̣n không đem theo lương thực nữa. Ông điều đ́nh với ông chủ thuyền và được chủ thuyền cho lên tàu không mất tiền, v́ thấy I-Nhă không có tiền, nhưng với điều kiện là phải mang theo một số lượng bánh khô đủ sống, nếu không th́ ông chủ thuyền nhất định không cho lên tàu.

 

36. Đang khi đi xin bánh, I-Nhă lại cảm thấy bối rối và tự trách ḿnh rằng: “Thế mới tin Chúa hay sao? Thế mới là trông cậy Chúa không bỏ rơi anh sao?” Câu tự trách đó thấm thía khiến ông cảm thấy rất khổ sở. Sau cùng không biết phải quyết định ra sao v́ thấy bên nào cũng hợp ư, ông quyết định xin ư kiến của Cha linh hướng. Vậy ông tŕnh bày ḷng ao ước sống trọn lành, bằng cách làm mọi việc hầu danh Chúa được cả sáng, cũng như những lư lẽ khiến ông phải do dự, và xin Cha cho biết có nên đem theo lương thực hay không. Cha linh hướng khuyên cứ đem theo lương thực.

            Khi đang xin một người phụ nữ, th́ bà này hỏi ông sắp sửa lên tàu đi đâu. Ông do dự một lúc trước khi trả lời rồi không dám nói sự thật, ông chỉ nói sắp đi Italia và Roma. Nghe vậy, với vẻ mặt ái ngại bà này nói rằng: “Ông định đi Roma sao? Bao nhiêu người đă đi Roma về mà cũng không biết ra làm sao nữa.” I-Nhă không dám nói đi hành hương tới Giêrusalem v́ sợ bị hư danh. Đó cũng là lư do tại sao ông không bao giờ dám nói với ai quê ḿnh ở đâu và thuộc gia đ́nh nào.

            Kiếm được đủ bánh rồi ông lên tàu. Tới bên băi biển, thấy trong túi c̣n năm, sáu đồng, ông móc ra bỏ trên một ghế đá gần bờ biển.

 

37. Trước khi tàu nhổ neo, I-Nhă lưu lại Barcelôna trên hai mươi ngày. Trong thời gian đó theo thói quen, ông t́m cách liên lạc với các người đạo đức, dù họ sống ẩn dật xa thành phố để trao đổi với họ. Tuy nhiên, tại Barcelôna cũng như tại Manrêsa lúc trước, ông không t́m được người nào có thể giúp đỡ ông như ḷng ông mong ước. Trừ một người đàn bà tại Manrêsa như đă được nhắc đến trước. Bà này đă nói với ông rằng bà sẽ cầu xin Thiên Chúa cho Chúa Giêsu hiện ra cho ông. Theo ư ông, bà đó đă tiến xa trong đời sống thiêng liêng. Sau khi rời khỏi Barcelôna, ông không c̣n khao khát t́m kiếm những người đạo đức nữa.

           

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 4

Hành Hương Đến Thánh Địa

1523

 

38. Suốt chuyến tàu từ Barcelôna tới Gaeta gió thuận thổi rất mạnh, tàu tới nơi trong ṿng năm ngày đêm, dù tất cả mọi người đều rất sợ v́ băo lớn. Khắp vùng đó người ta sợ dịch hạch, nhưng I-Nhă xuống tàu và đi Roma ngay. Trong số hành khách trên tàu có một người đàn bà với một cô gái mặc quần áo con trai và một thanh niên cùng đi với ông. Họ theo ông v́ họ cũng vừa đi vừa xin ăn.

            Tới một nông trại, họ thấy có đông lính đứng chung quanh và một đống lửa. Lính mời họ ăn uống và nài ép họ uống rượu như muốn cho họ say. Rồi lính chia ra nhóm, cho người mẹ và cô gái lên lầu, người lữ khách và thanh niên ở dưới chuồng ngựa. Vào chừng nửa đêm, ông ra ngoài th́ thấy hai mẹ con bà kia chạy tới khóc lóc kể rằng lính toan hăm hiếp họ. Ông nổi giận thét lớn: “Chuyện này không thể nào chịu đựng được,” và những câu tương tự khác. Ông nói đanh thép đến nỗi mọi người đều khiếp sợ và không ai dám làm ǵ ông, trong khi đó chàng thanh niên đă chạy mất rồi, c̣n lại ba người lên đường ngay giữa đêm hôm ấy.

 

39. Tới một thành ở gần đó th́ họ thấy cửa thành đă khóa kín. V́ không sao vào được, nên họ đành ngủ đêm trong một nhà thờ gần đó có nước mưa lùa vào. Sáng hôm sau, dân chúng trong thành cũng không cho họ vào. Ở ngoài thành họ không kiếm được ǵ ăn, dù họ đă tới xin trọ một nông trại không xa thành. Tại đó, người lữ khách cảm thấy kiệt sức, một phần v́ chuyến tàu vất vả, một phần v́ những chuyện khác đă xảy ra. Không đi được nữa, ông đành phải ở lại đó, và hai mẹ con bà kia lên đường đi Roma.

            Ngày hôm đó nhiều người ra khỏi thành. Nghe nói bà chủ đất đó sắp tới, ông ra đón bà, bảo đảm với bà rằng ông chỉ đau v́ kiệt sức thôi, và xin bà cho phép vào thành để t́m cách dưỡng sức. Bà cho phép ngay, ông liền vào thành hành khất và kiếm được khá nhiều. Nghỉ tại đó hai ngày để lấy lại sức, ông lại lên đường và tới Roma vào ngày Chúa Nhật Lễ Lá.

 

40. Tại đó, người ta gặp ông và nghe ông nói không có một đồng xu nào trả tiền lên tầu đi Giêrusalem th́ họ đưa ra nhiều lư lẽ cho ông hiểu rằng, nếu không có tiền, th́ đừng ḥng lên tàu đi Giêrusalem được. Tuy nhiên, ông xác tín mănh liệt không do dự chút nào rằng ông sẽ t́m được cách đi Giêrusalem. Tám chín ngày sau Lễ Phục Sinh, sau khi được Đức Giáo Hoàng Adrianô VI ban phép lành, ông lên đường đi Venezia. Ông mang theo sáu, bảy đồng tiền vàng, người ta cho ông số tiền đó để trả vé tàu đi Giêrusalem. Ông bằng ḷng lấy v́ họ làm ông sợ nếu không có tiền th́ không đi được.

            Nhưng sau hai ngày rời khỏi Roma, ông thấy rằng ḿnh đă bằng ḷng lấy tiền chỉ v́ thiếu ḷng tin và hết sức hối hận. Ông tự hỏi có nên bỏ lại không. Rốt cuộc ông phân phát rộng răi cho những người ông gặp, thường là những người nghèo, và phân phát gần hết. Khi gần tới thành phố Venezia ông chỉ c̣n vài chục đồng cắc. Tối hôm đó, chút đỉnh tiền cắc đă giúp ông rất nhiều.

 

41. Suốt buổi hành tŕnh đi đến Vênêzia, ông phải ngủ ở ngoài đường, bởi v́ người ta dùng mọi biện pháp đề pḥng dịch hạch. Một buổi sáng tỉnh dậy, ông thấy đang nằm sát một người, người này bỗng nhiên đứng dậy và hốt hoảng chạy mất. Có lẽ v́ thấy người lữ khách mặt xanh nhợt giống như người mắc dịch.

            Đi tới Chioggia cùng với một số người khác, I-Nhă được biết người ta sẽ không cho vào thành phố Vênêzia. Cả nhóm quyết định đi Pađôva để lấy chứng chỉ sức khỏe. Người lữ khách đi theo họ nhưng không theo kịp v́ họ đi nhanh. Thế là họ bỏ ông bên một cánh đồng khi trời gần tối.

            Tại đó Chúa hiện ra cho ông như mọi khi, khiến ông được an ủi rất nhiều. Vững tâm, sáng hôm sau, ông tới thành Pađôva dù không làm giấy giả để vào thành mà vẫn vào thành được ngay. Lính gác đă không hỏi điều ǵ, lúc trở ra cũng vậy. Những người đồng hành hết sức ngạc nhiên. Họ đă lấy giấy sức khoẻ trong khi I-Nhă đă không hề bận tâm ǵ tới điều đó.

 

42. Khi tới Vênêzia, th́ lính tới xét giấy của từng không nhưng không ai đụng đến ông. Tại Vênêzia, ông xin ăn và ngủ đêm tại công trường Thánh Marcô. Không lần nào ông tới nhà ông đại sứ của hoàng đế, và cũng chẳng quan tâm đến việc t́m phương tiện qua biển đi Giêrusalem. Xác tín vững vàng rằng Thiên Chúa sẽ lo cho, và không hề nghi ngờ dù người ta đưa ra nhiều lư do và đặt nhiều nghi vấn.

            Một hôm ông t́nh cờ gặp một người Tây Ban Nha giầu có, người này hỏi ông định làm ǵ và định đi đâu. Biết ư định của I-Nhă, ông này mời ông về nhà dùng bữa và lưu lại ít hôm chờ ngày lên tàu. Từ khi c̣n ở Manrêsa, người lữ khách đă tập thói quen lúc dùng cơm không nói chuyện ǵ mà chỉ trả lời vắn tắt thôi. Nhưng nghe kỹ câu chuyện và để ư đến một số vấn đề, rồi sau bữa ăn, mới t́m cơ hội nói chuyện với người ta về Thiên Chúa. Mỗi lần dùng bữa, ông thường làm như vậy.

 

43. Nhờ thói quen đó mà người trong nhà rất quư mến I-Nhă và nài ép ông ở lại luôn. Ông chủ nhà này đă dàn xếp cho I-Nhă yết kiến lănh chúa thành phố Vênêzia. Sau khi nói chuyện với người lữ khách, lănh chúa thành phố đă truyền cho tầu trấn thủ đi tới đảo Cyprus cho I-Nhă đi theo.

            Năm đó rất đông người hành hương tập họp tại Vênêzia để lên tàu đi tới Giêrusalem. Nhưng phần đông phải quay về không đi được v́ t́nh trạng mới, sau khi đảo Rhodes bị thất thủ. Một tàu chỉ chở tối đa 13 người hành hương thôi. C̣n tàu trấn thủ th́ chỉ chở 8, 9 người thôi. 

            Khi tàu trấn thủ sắp khởi hành, người lữ khách bị đau sốt nặng ít ngày rồi khoẻ lại. Vào ngày tàu nhổ neo I-Nhă lại uống thuốc sổ. Người nhà hỏi y sĩ xem ông có thể lên tàu đi Giêrusalem được không. Y sĩ trả lời rằng nếu muốn đi để được chôn cất tại đó th́ được lắm. Tuy nhiên I-Nhă vẫn lên tàu hôm đó và đi liền. Ông ói mửa nhiều, thấy đỡ và bắt đầu khỏi hẳn. 

            Trên tàu người ta làm nhiều chuyện bậy bạ dơ bẩn công khai, I-Nhă khiển trách họ nghiêm khắc.

 

44. Những người Tây Ban Nha khuyên ông không nên nói ǵ, v́ các thủy thủ định bỏ ông trên một đảo hoang. Nhưng Chúa đă thương cho tàu tới Cyprus an toàn. Xuống tàu, hành khách đi đường bộ đến một bến khách gọi là Salinas cách đó khoảng 10 dặm và lên tàu hành hương. Trên tàu này I-Nhă không đem theo lương thực ǵ trừ niềm hy vọng nơi Thiên Chúa như trong chuyến trước.

            Suốt thời gian này, Chúa đă hiện ra cho ông nhiều lần, khiến ông cảm thấy phấn khởi và vững tin. Ông thấy một vật ǵ tṛn lớn giống như vàng. Ông thấy như vậy từ khi tàu rời Cyprus đến khi tàu cập bến ở Giapha.

            Trên đường đi Giêrusalem, theo phong tục họ cưỡi lừa con. Khi tới chỗ cách thành phố chừng hai chục dặm, một người Tây Ban Nha, h́nh như thuộc ḍng quí tộc tên là Điêgô Manes, sốt sắng nói với đám người hành hương hăy chuẩn bị tâm hồn và giữ thinh lặng bởi v́ sắp đến chỗ có thể trông thấy Thành Thánh.

 

45. Mọi người thấy đó là ư kiến hay, nên tất cả đều cầm trí. Trước khi tới nơi có thể trông thấy Thành Giêrusalem, họ thấy các tu sĩ tay cầm Thánh giá đang đứng chờ họ, mọi người xuống lừa đi bộ. Lúc trông thấy thành phố, người lữ khách cảm thấy hết sức phấn khởi và vui vẻ khác với cảm tưởng vui vẻ tự nhiên. Mọi người cũng đều cảm thấy như vậy. Mỗi lần đi viếng các nơi thánh ông cũng đều cảm thấy thế.

            I-Nhă có ư định ở lại Giêrusalem để viếng các nơi Thánh và đồng thời giúp đỡ các linh hồn. V́ thế ông đă đem theo sẵn vài lá thư giới thiệu với các Cha bề trên ḍng. Ông tŕnh các thư cho Cha bề trên và tỏ ư định ở lại thành phố v́ ḷng đạo đức. Tuy nhiên về việc kia là giúp các linh hồn, ông không nói ǵ cả. Bởi v́ ông không tŕnh bày điều này với ai bao giờ, trong khi điều thứ nhất ông đă nói với nhiều người rồi.

             Cha bề trên trả lời rằng ông không thấy có cách nào để I-Nhă ở lại. Bởi v́ tu viện quá thiếu thốn không đủ nuôi các tu sĩ hiện có, và do đó ông đă quyết định gửi về âu châu một số người cùng một chuyến với các người hành hương. Người lữ khách trả lời rằng ông không muốn nhờ tu viện điều ǵ trừ việc thỉnh thoảng giải tội cho ông. Bề trên trả lời nếu thế th́ được, nhưng yêu cầu ông đợi Cha bề trên giám tỉnh từ trụ sở của ḍng ở Giêrusalem đến thăm.

 

46. V́ lời hứa đó, ông lữ khách cảm thấy vững tâm và bắt đầu viết thư cho một số người đạo đức tại Barcêlôna. Hôm trước ngày những người hành hương khởi hành trở về, ông đă viết xong một bức thư và đang viết thêm một bức nữa th́ có người đến mời ông vào gặp Cha giám tỉnh mới tới và Cha bề trên.

            Cha giám tỉnh dùng lời lẽ nhă nhặn nói rằng đă nghe ư định của I-Nhă ở lại Đất Thánh, Cha đă cân nhắc điều đó kỹ lưỡng và theo kinh nghiệm của những người đến trước, Cha xét thấy rằng không tiện. Cha đă cho nhiều người quyết định ở lại, nhưng người này bị bắt người kia chết. Ngoài ra ḍng c̣n phải chuộc lại những người bị bắt. Do đó, Cha yêu cầu I-Nhă chuẩn bị lên đường ngày hôm sau với nhóm hành hương. Ông trả lời ông đă nhất quyết rồi và sẽ không thay đổi ư kiến v́ bất cứ lư do ǵ. Ông dùng lời hoà nhă để Cha giám tỉnh hiểu rằng, dù Cha không bằng ḷng ông cũng sẽ không bỏ ư định và sẽ không sợ bất cứ lời đe doạ nào trừ khi có lệnh buộc lương tâm thôi.

            Nghe vậy, Cha giám tỉnh cho ông hay Cha có văn thư Ṭa Thánh uỷ quyền cho Cha ra lệnh trục xuất, hoặc cho phép ở lại những người Cha muốn và rút phép thông công những người không vâng lời. Trong trường hợp người lữ khách Cha cho rằng ông không được ở lại.

 

47. V́ Cha tỏ ư muốn đưa văn thư của Ṭa Thánh ủy quyền rút phép thông công cho ông coi, th́ ông nói ông tin lời hai Cha đáng kính, khỏi cần coi văn thư. V́ Ṭa Thánh phán xét như thế nên ông vâng theo.

            Xong vụ này rồi, đang khi về nhà trọ I-Nhă cảm thấy ước ao viếng Núi Cây Dầu một lần chót trước khi ra đi, bởi v́ Chúa không muốn ông ở lại Đất Thánh. Trên núi có một phiến đá Chúa đă đứng trước khi lên trời, ngày nay c̣n được thấy dấu chân của Chúa. Ông muốn trở lại coi dấu chân của Chúa. Không nói ǵ với ai và không nhờ người hướng dẫn, ông lén lút bỏ đám người hành hương và tới núi cây dầu một ḿnh.

            Lính gác không muốn cho ông vào, ông cho họ một con dao nhỏ mang theo. Sau khi đọc kinh rất sốt sáng ông lại nảy ư định muốn đi tới Betphage và ông đi liền. Tại đó ông mới nhớ ra rằng khi ở trên núi cây dầu, ông đă quên không nh́n kỹ dấu chân Chúa hướng về phía nào, nên ông trở lại coi. Lần này, h́nh như ông cho lính gác cái kéo để họ cho vào.

 

48. Ở tu viện người ta khám phá ông đi một ḿnh, các tu sĩ lo lắng sai người đi t́m. Đang khi từ trên núi cây dầu xuống, ông gặp một người thắt đai giúp việc tại tu viện. Ông này cầm một cây gậy to tướng với vẻ mặt hung dữ như muốn đánh. Tới gần I-Nhă, ông ta tóm lấy, nắm chặt lấy tay kéo theo. I-Nhă không chống cự nhưng người này vẫn cứ nắm chặt và kéo. Trong khi đi như thế về tới tu viện, I-Nhă được thấy Chúa liên miên như từ trên cao và ḷng cảm thấy tràn đầy hạnh phúc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 5

Trên Đường Trở Về

1523 - 1524

 

49. Họ khởi hành ngày hôm sau. Tới đảo Cyprus, họ lên những tầu khác nhau. Lúc đó có ba bốn tầu đi Vênêzia, một cái của ông Thổ Nhĩ Ḱ, một cái khác th́ rất nhỏ và cái thứ ba rất sang trọng và lớn mạnh của một người Vênêzia giầu có. Một số hành khách xin ông chủ tàu thứ ba này cho I-Nhă lên tàu của ông. Mặc dù nhiều người năn nỉ và ca tụng người lữ khách, nhưng khi biết ông không có tiền trả, người chủ tàu từ chối. Ông ta bảo rằng nếu là một ông Thánh th́ hăy cứ vượt biển theo lối Thánh Giacôbê, và những câu tương tự. Những người bạn kia lại xin được ông chủ tàu nhỏ cho I-Nhă lên tàu.

            Ba cái tàu đều nhổ neo vào cùng một buổi sáng. Suốt buổi sáng có gió thuận thổi, nhưng vào buổi chiều, băo nổi lên khiến ba cái tàu bị đẩy xa nhau. Tàu lớn bị ch́m gần đảo Cyprus, nhưng tất cả hành khách đều thoát nạn. Tàu Thổ Nhĩ Ḱ th́ bị đắm cùng với tất cả hành khách trên tàu. Tàu nhỏ bị thử thách rất nhiều nhưng cuối cùng cũng ghé vào bờ được an toàn tại vùng Puglie (phía đông nam xứ Italia). Đó là vào một mùa đông lạnh buốt, người lữ khách chỉ mặc một cái quần phồng ra, vải thô che thân tới đầu gối, chân đi giầy, một cái áo nịt vải mầu đen đă cũ rách ở nhiều nơi trên vai, và một cái áo choàng ngắn đă sờn.

 

50. I-Nhă tới Vênêzia vào giữa tháng 1 năm 1525, sau khi đă đi biển trọn hai tháng 11, 12 và nửa tháng giêng. Tại Vênêzia, ông lại gặp người đă đón ông về nhà trước khi đi Giêrusalem. Người này cho ông một số tiền là 15, 16 Giuli tức là 1/10 của tiền Đaca. Ông lấy vải gấp lại nhiều lần và buộc trên mạng mỡ cho đỡ lạnh. Sau khi thấy rơ ư Chúa không muốn cho ông ở tại Giêrusalem, người lữ khách luôn luôn cầm trí suy nghĩ phải làm ǵ bây giờ, và ông thấy hướng về việc đi học một thời gian để giúp đỡ các linh hồn.

            V́ thế ông quyết định đi Barcelôna và lên đường đi từ Vênêzia tới Gênôva. Một hôm đang đọc kinh trong một nhà thờ lớn tại Ferrara, có một người nghèo đến xin tiền, ông cho một đồng tiền. Liền sau đó lại có một người khác đến xin, th́ ông cho anh ta một đồng có giá trị cao hơn; rồi lại một người thứ ba đến xin, ông lại cho một đồng. Thấy ông cho tiền nhiều, những người nghèo cứ nối đuôi đến xin cho tới khi ông không c̣n một xu dính túi. Ông thành thật xin lỗi họ v́ không c̣n ǵ để cho họ nữa!

 

51. Thế rồi ông lại lên đường từ Ferrara đi Gênôva. Trên đường ông gặp một toán lính Tây Ban Nha. Họ đối xử tử tế với ông, và khi nghe biết đường ông định đi, th́ họ ái ngại cho ông v́ đó là đường đi xuyên qua cả hai trại quân của Pháp và Hoàng Đế. Vào năm đó, quân đội của vua Pháp Francois I và Hoàng Đế Carlos V đánh nhau để chiếm công quốc Nilan. Họ khuyên ông bỏ đường cái và đi vào một con đường nhỏ họ chỉ cho. Nhưng không nghe lời khuyên của lính, ông cứ đi theo đường cái. Người lữ khách đi tới một làng bị thiêu rụi, và không t́m được người nào cho một miếng ăn.

            Mặt trời lặn rồi ông mới đến một làng có đắp lũy, lính gác bắt ông ngay v́ tưởng ông đến ḍ thám. Nhốt ông vào căn nhà nhỏ gần cổng làng, rồi bắt đầu điều tra như người ta thường làm khi nghi ngờ. Ông trả lời mọi câu hỏi rằng ông không biết ǵ hết. Họ lột quần áo của ông ra, rồi xét kỹ cho đến đôi giầy cũng như khắp ḿnh ông xem có thư từ ǵ không. Cuối cùng, thấy không có cách nào để biết điều ǵ, họ xích ông lại và dẫn tới chỉ huy trưởng. Ông xin lại áo choàng nhưng họ không cho và dẫn ông đi, chỉ cho mặc quần và áo nịt mà thôi.

 

52. Trong khi đi như vậy người lữ khách có cảm tưởng như thấy được Chúa Kitô lúc Ngài cũng bị bắt đem đi như thế, tuy nhiên đó không phải là một thị kiến như các thị kiến khác. Ông bị đem đi qua con đường rộng, không thấy buồn ǵ cả mà trái lại cảm thấy vui và b́nh an.

            Ông có thói quen khi nói chuyện với bất cứ người nào th́ thưa gởi cách đơn sơ tự nhiên không kính tŕnh ǵ cả, v́ muốn noi gương Chúa Kitô và các tông đồ. Tuy nhiên đang khi bị bắt đi như vậy, ông nghĩ có lẽ nên tŕnh chỉ huy trưởng v́ sợ tra tấn nên đổi cách xưng hô trong dịp khó khăn này. Nhưng thấy rơ đó là do ma quỉ xúi dục, ông liền tự nhủ: “Ḿnh sẽ không kính tŕnh ǵ hết, không khom lưng mà cũng chẳng dở nón.”

 

53. Tới dinh chỉ huy trưởng, họ để ông đứng chờ trong một pḥng thấp. Một lúc sau vị chị huy trưởng đến, ông không làm cử chỉ nào kính cẩn, chỉ trả lời một vài tiếng cộc lốc và hết sức chậm chạp. Vị chỉ huy trưởng cho là khùng và bảo lính: “Thằng này khùng rồi. Trả đồ cho nó và đuổi nó đi.” Rời khỏi dinh ông liền gặp một người Tây Ban Nha sống tại đó. Ông này cho I-Nhă ăn uống và cho ngủ qua đêm.

            Sáng hôm sau I-Nhă lại lên đường và đi suốt ngày. Tối đến lính gác trên một cái chồi thấy ông liền xuống bắt. Họ đưa ông tới chỉ huy trưởng là một người Pháp. Chỉ huy trưởng hỏi ông nhiều câu và muốn biết quê ông ở đâu. Khi biết quê ông ở Guipuzcoa, chỉ huy trưởng liền nói: “Quê tôi cũng ở gần đó, chắc quê ông gần Bayonna.” Rồi ông bảo lính: “Đưa ông này đi, cho ăn uống và đối xử tử tế với ông.”

            Trên đường đi từ Ferrara đến Gênôva, người lữ khách c̣n gặp nhiều chuyện rắc rối khác nữa, nhưng cuối cùng th́ tới được Gênôva. Ở đó có một người quê tại Viscaya, tên là Portunđô, nhận ra ông. Hồi trước khi làm việc trong triều đ́nh Vua Công Giáo họ đă từng gặp nhau. Nhờ ông ta giới thiệu, người lữ khách được lên một tàu đi Barcelôna. Chuyến đi này rất nguy hiểm v́ bị một tàu khác đuổi theo và suưt nữa bị bắt.

           

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 6

Những Ngày Học tại Barcelôna và Alcala

1524 - 1527

 

54. Về tới Barcelôna, I-Nhă tŕnh bày ư muốn đi học cho cô Isabel Roser và một thày giáo tên Ardêvol, là thày dạy các lớp tiểu học. Cả hai đồng ư với I-Nhă và cho đó là một ư định tốt. Thầy giáo t́nh nguyện dạy không công, và bà cô t́nh nguyện kiếm phương tiện sống cho ông.

            Hồi trước ở Manrêsa, người lữ khách quen một tu sĩ, h́nh như thuộc ḍng Bernađô. Tu sĩ này là một người thánh thiện và bây giờ I-Nhă ước ao được sống gần người đó để tiếp tục học hỏi, trao dồi thêm về đời sống thiêng liêng và giúp đỡ các linh hồn. Ông nói với cô Isabel và thầy giáo rằng, nếu ở Manrêsa không được giúp đỡ theo sự mong muốn, ông sẽ trở về và nhờ hai người giúp đỡ. Về tới Manrêsa ông mới biết tu sĩ đó đă qua đời rồi. Ông trở về Manrêsa và bắt đầu học rất chăm chỉ. Tuy nhiên, có một vấn đề gây khó khăn cho ông. Mỗi lần ông bắt đầu cố gắng học thuộc ḷng một bài nào, th́ lại có những tư tưởng mới về đời sống thiêng liêng và những tư tưởng này làm cho ông thích thú đến độ không thể nào học thuộc bài được. Ông cố gắng xua đuổi tư tưởng đó mà không được.

 

55. Suy nghĩ nhiều về vấn đề đó ông nghĩ bụng: “Lúc cầu nguyện hay đi xem lễ, không bao giờ có những hiểu biết mới đó.” Như thế, dần dần ông hiểu rằng đó là do ma quỷ cám dỗ. Sau khi cầu nguyện, ông đến gặp thầy giáo và xin thầy đi với ông vào nhà thờ Đức Bà Biển Khơi gần nhà thầy, để nói chuyện. Ông tŕnh bày với thầy giáo kinh nghiệm nội tâm của ông với đầy đủ chi tiết và giải thích lư do tại sao ông rất chậm tiến trong việc học hành. Rồi ông hứa với thầy giáo rằng: “Suốt hai năm bao lâu c̣n kiếm được bánh mà ăn và nước để uống tại Barcelôna, tôi quyết sẽ không bao giờ bỏ học với thầy.” Sau khi cương quyết hứa như vậy, ông không bao giờ c̣n bị cám dỗ nữa.

            Từ hồi sống tại Manrêsa, ông vẫn đau dạ dày v́ vậy ông bắt đầu đi giầy. Nhưng từ khi lên đường đi Giêrusalem ông không c̣n đau nữa. Do đó, trong thời gian học hành tại Barcelôna, ông lại nảy ư muốn sống khắc khổ như trước. Ông đục một cái lỗ ở đế giầy, và từ từ nới rộng cái lỗ cho tới khi mùa lạnh đến th́ đôi giầy chỉ c̣n lại cái mũi mà thôi.

 

56. Học xong hai năm, theo nhận xét của một số người th́ ông đă tiến bộ rất khá. Thầy giáo nói bây giờ ông có thể theo lớp trung học được và nên đi học tại Alcala. Tuy nhiên ông muốn nhờ một tiến sĩ thần học khảo thi, và ông này cũng khuyên ông như vậy.

            Mặc dù lúc bấy giờ h́nh như ông đă qui tụ được một số bạn bè rồi nhưng lại lên đường đi Alcala một ḿnh. Tới nơi ông bắt đầu xin ăn, và đă xin như thế lối chừng mười, mười hai ngày, th́ một linh mục cùng vài người đi theo thấy I-Nhă xin ăn liền bắt đầu chế nhạo và chọc tức như thiên hạ thường hay nhạo cười những người khoẻ mạnh mà cứ xin ăn. Lúc ấy, có một người đi ngang qua đường - ông này phụ trách nhà thương Antezana mới mở - thấy cảnh khó chịu đó và mời người lữ khách về nhà thương của ḿnh, dành cho một pḥng và cung cấp cho mọi đồ dùng cần thiết.

 

57. Ông ở lại Alcala học hành chừng độ một năm rưỡi. V́ ông đă tới Barcelôna vào Mùa Chay năm 1524 và học ở đó hai năm, nên chắc hẳn ông đă đến Alcala vào năm 1526. Tại đó ông học ba cuốn giáo khoa là Luân Lư Học của tác giả Đa Minh Soto, Vạn Vật Học của Albertô Cả và Sách Luận Đề là tác phẩm thần học nổi tiếng thời đó của tác giả Petrus Lombardus, giáo sư thần học tại Paris, sáng tác vào giữa thế kỷ thứ 12.

            Tại Alcala ông thường hay hướng dẫn Linh Thao và dạy giáo lư. Nhờ đó mà có kết quả thiêng liêng và Thiên Chúa được ca ngợi. Có nhiều người tiến khá xa trong đời sống thiêng liêng và trở nên sốt sắng. Nhiều người khác lại bị thử thách, mỗi người một khác. Có người muốn đánh tội mà không được như có ai cầm tay họ lại. Một số chuyện tương tự như thế gây náo động trong dân chúng, v́ có rất đông người tụ họp nơi ông lữ khách dạy giáo lư.

            Từ khi mới về Alcala, I-Nhă làm quen với ông Diego Guia đang sống tại nhà người anh. Người anh này có một nhà in tại Alcala và khá sung túc. Cả hai anh em giúp đỡ I-Nhă có phương tiện để giúp người nghèo, và người anh cho ba người bạn của người lữ khách trọ tại nhà ông. Một hôm người lữ khách xin Deigo cho phương tiện để giúp người nghèo, th́ ông này trả lời không có tiền nhưng lại mở một cái rương chứa nhiều đồ đạc và cho I-Nhă lấy nhiều thứ chăn mền màu sắc khác nhau, cùng giá đèn và nhiều đồ khác. Người lữ khách lấy đồ, gói vào một cái khăn và đưa đi giúp người nghèo.

 

58. Như đă kể trước, thiên hạ đồn đăi rất nhiều về người lữ khách tại khắp vùng, người nói thế này kẻ nói thế khác. Những tiếâng đồn đó đến tai viên thanh tra tại Tôlađa. Khi họ tới Alcala, chủ nhà báo tin ngay cho người lữ khách biết và c̣n cho hay thêm rằng họ gọi nhóm của I-Nhă là “những người mặc áo len thô” và h́nh như “kẻ giác ngộ nữa,” họ sẽ tiêu diệt cả nhóm. Quả thực các nhân viên thanh tra mở ngay cuộc điều tra về lối sống của nhóm, nhưng không tra hỏi I-Nhă v́ lần này họ chỉ đến để điều tra thôi, rồi lại trở về Tôlêđô. Họ trao phó vụ án cho một linh mục đại diện tên là Figueroa hiện có chân trong hội đồng cố vấn của hoàng đế. Vài ngày sau linh mục Đại Diện triệu tập anh em lại và cho họ biết các nhân viên thanh tra đă điều tra về lối sống của họ. V́ không t́m được ǵ sai lầm trong giáo lư và lối sống, nên anh em được phép tiếp tục làm việc không ai làm khó dễ. Tuy nhiên v́ không phải là tu sĩ nên không ai được mặc đồng phục. Ông ra lệnh cho hai người - ông đưa tay chỉ người lữ khách và Artêaga - phải nhuộm áo màu đen và hai người kia, tức Galixtô và Caceres, nhuộm màu hung hung; c̣n Juanico, là một thanh niên Pháp, th́ có thể giữ nguyên quần áo.

 

59. Người lữ khách hứa tuân theo và nói tiếp: “Họ điều tra chúng tôi làm ǵ? Hôm nọ một linh mục không chịu trao Ḿnh Thánh cho một người trong nhóm chúng tôi, lấy cớ là người ấy chịu Ḿnh Thánh hàng tuần. Và họ c̣n làm khó dễ chúng tôi cũng chỉ v́ lư do đạo đức. Chúng tôi muốn biết họ có thấy chúng tôi có rối đạo về điểm nào không?” Ông Figueroa trả lời: “Không, nếu họ t́m thấy th́ họ đă thiêu sống các anh.” Người lữ khách đáp lại: “Họ cũng sẽ thiêu sống ông luôn nếu họ thấy ông rối đạo.” Nhóm của I-Nhă nhuộm quần áo theo lệnh trên. Mười lăm hoặc hai mươi ngày sau, ông Figueroa chỉ thị cho người lữ khách không được đi chân không, nhưng phải đi giầy. Ông lặng lẽ tuân theo, như trong trường hợp có lệnh rơ rệt.

            Bốn tháng sau lại họ mở cuộc điều tra. Ngoài những lư lẽ cũ có một vụ mới là một phụ nữ quí phái có chồng tỏ ra kính phục riêng người lữ khách. Vào sáng sớm bà đến gặp ông tại nhà thương và để người ta khỏi nhận ra, bà lấy khăm trùm đầu theo phong tục Alcala. Lúc vào nhà thương bà cởi khăn ra vào pḥng ông. Tuy nhiên lần đó họ không làm khó dễ nhóm I-Nhă, không đ̣i ra toà và không nói năng ǵ cả sau khi vụ án chấm dứt.

 

60. Bốn tháng sau, khi I-Nhă đang ở trong một căn nhà nhỏ ở ngoài nhà thương, một người tùy phái đến gơ cửa và bảo: “Mời anh đi với tôi.” Tới nhà giam, người này xô I-Nhă vào và nạt: “Anh không được ra khỏi đây cho tới khi có lệnh mới!” Đó là vào mùa hè. V́ không bị kiểm soát gắt gao nên có đông người đến thăm. Ông vẫn tiếp tục làm việc như trước, tức là dạy giáo lư và hướng dẫn linh thao.

            Dù nhiều người đă t́nh nguyện giúp đỡ, ông không bao giờ chấp thuận nhờ luật sư hay tham tá nào. Đặc biệt nhờ có bà Têrêsa Cardênas sai người đến thăm và đề nghị nhiều lần can thiệp để I-Nhă được tha. Tuy nhiên, ông không nhận, và luôn nói rằng: “Tôi vào đây v́ yêu mến ai, th́ Đấng ấy sẽ lo cho tôi ra, nếu việc ấy hữu ích để phục vụ Ngài.”

 

61. Ông ở nhà tù 17 ngày không ai hỏi han điều ǵ, và không biết tại sao bị bắt. Sau cùng, linh mục đại diện đến nhà tù, hỏi I-Nhă nhiều chuyện ḱ lạ, như có phải ông dậy môn đệ nghỉ ngày thứ bảy không? Ông hỏi thêm I-Nhă có quen với hai mẹ con người đàn bà nọ chăng? I-Nhă trả lời có, và trước khi họ lên đường ông có biết ư định của họ ra đi không? I-Nhă trả lời không biết v́ đă hứa với họ! Nghe vậy, vị đại diện đặt tay lên vai I-Nhă và vui vẻ nói: “Tôi đến đây để chỉ biết có bấy nhiêu thôi.”

            Quả thực trong số những người theo I-Nhă có hai mẹ con người đàn bà kia, cả hai đều goá chồng, hai người đă tiến khá xa trong đời sống thiêng liêng, đến độ mặc dù thuộc một gia đ́nh quí tộc, họ đă đi bộ đến đền thờ Veronica tại Ruen và không nhờ ai đi theo giúp. Vụ đó đă gây xôn xao tại Alcala. Giáo sư Ciruêlô là người có trách nhiệm giám hộ hai phụ nữ. V́ đinh ninh chính người lữ khách khuyến khích họ đi hành hương, nên đă tố cáo để ông bị bắt giam. Sau khi nghe vậy, ông lữ khách nói: “Ông có muốn tôi nói thêm về vụ này không?” Ông đại điện đáp: “Được anh cứ nói.” “Tôi muốn cho các ông biết hai phụ nữ này đă năn nỉ tôi nhiều lần, bởi v́ họ muốn đi phục vụ người nghèo tại khắp các nhà thương nhưng tôi luôn luôn ngăn cản họ. V́ người con gái c̣n rất trẻ và khiến nhiều người chú ư tới cô ta. Tôi đă khuyên họ, nếu muốn thăm viếng người nghèo th́ có thể làm ngay tại Alcala, và cũng có thể viếng Thánh Thể Chúa nữa.” Cuộc gặp gỡ chấm dứt, ông Figueroa ra về với lục sự đem theo biên bản.

 

62. Hồi đó Calixtô đang ở Segovia. Mới nghe người lữ khách bị bắt giam. Mặc dù mới khỏi bệnh anh ta đến ngay, và ở lại luôn tại nhà giam. Nhưng người lữ khách bảo anh nên tŕnh linh mục đại diện. Ông tiếp đón anh ta ân cần và cho biết ông sẽ nhốt anh ta luôn, cho đến khi hai phụ nữ trở về xem họ có khai đúng như như lời người lữ khách không. Thế là Calixtô ở tù ít bữa. Nhưng thấy anh ta khó chịu v́ chưa khỏi bệnh hẳn, người lữ khách nhờ một người bạn thân can thiệp cho ra.

            Từ khi vào tù đến khi ra, người lữ khách bị nhốt 42 ngày. Hai phụ nữ trở về, lục sự tới nhà giam đọc bản án rằng: “Tù nhân được tự do nhưng ông và các bạn phải ăn mặc như các sinh viên khác, không được giảng dạy đức tin cho đến khi họ học hành đủ trong thời gian bốn năm, v́ xét thấy chưa đủ kiến thức.” Thực ra người lữ khách là người có học thức khá hơn các người kia, nhưng chưa có căn bản vững chắc. Điều đó ông nói ngay khi có người hỏi đến.

 

63. Bản án khiến ông phân vân không biết phải làm ǵ. Người ta vô cớ ngăn cản không cho ông giúp các linh hồn chỉ v́ chưa học hành đầy đủ. Sau cùng ông đến gặp Tổng Giám Mục Tôlêđô tên là Fonsêca để nhờ giải quyết vấn đề.

            Ông rời khỏi Alcala và gặp Tổng Giám Mục tại Valladolid. Ông kể tỉ mỉ câu chuyện, rồi nói thêm rằng mặc dù bây giờ ông không c̣n dưới quyền của Tổng Giám Mục nữa và không c̣n bị ràng buộc theo bản án, ông vẫn sẽ vâng theo chỉ thị của Tổng Giám Mục. Tổng Giám Mục tiếp đón ông niềm nở và khi nghe I-Nhă có ư định đi Salamanca, nơi ông có một số bạn và trường học, th́ ông đề nghị nhờ họ giúp đỡ I-Nhă. Trước khi I-Nhă lên đường, ông lại cho bốn đồng tiền vàng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 7

Bị Điệu Ra Ṭa tại Salamanca

1527

 

64. Sau khi I-Nhă tới Salamanca rồi, một hôm đang lúc cầu nguyện trong một nhà thờ, một phụ nữ đạo đức nhận ra ông, và bà cho biết bốn người thuộc nhóm ông đă kết nạp đă ở đó mấy hôm rồi, và đưa ông đến nhà các bạn ở.

            Ở Alcala, khi người ta ra bản án buộc các bạn ăn mặc như sinh viên, người lữ khách đă nói: “Khi quư ông bảo chúng tôi nhuộm quần áo th́ chúng tôi đă tuân theo. Nhưng bây giờ chúng tôi không thể tuân theo lệnh của các ông được v́ không có phương tiện mua quần áo mới.” Vậy chính linh mục đại diện đă cho họ quần áo, nón và tất cả đồ dùng sinh viên. Lúc rời Alcala họ ăn mặc theo kiểu đó.

            Tại Salamanca, người lữ khách đă nhờ một Cha Ḍng Đa Minh thuộc tu viện Thánh Têphanô làm linh hướng. Mười hai ngày sau khi I-Nhă tới nơi, Cha linh hướng nói với ông: “Một số Cha trong tu viện muốn gặp anh.” Ông trả lời: “V́ Danh Chúa con sẽ đến.” Cha nói thêm: “Vậy th́ anh đến dùng bữa trưa ngày Chủ Nhật. Tôi nói trước cho anh hay các Cha muốn biết rất nhiều chuyện về anh.”

            Ngày Chúa Nhật, ông đi với Calixtô. Bữa cơm xong, Cha phụ tá viện trưởng - v́ viện trưởng vắng mặt - mời hai Cha khách cùng Cha linh hướng và h́nh như một Cha khác nữa vào nhà nguyện. Cha phụ tá dùng lời lẽ nhă nhặn nói rằng các Cha đă nghe nhiều điều hay về đời sống đạo đức của các anh và nghe nói các anh đi rao giảng như các Thánh Tông Đồ. Tuy nhiên, các Cha muốn được biết tỉ mỉ hơn. Vậy trước tiên Cha hỏi họ đă học hành đến tŕnh độ nào. Người lữ khách đáp: “Trong nhóm, tôi là người học nhiều nhất.” Rồi ông nói rơ ràng những điều ông đă học, cũng như về nền tảng học vấn bấp bênh của ông.

 

65. Rồi các Cha hỏi tiếp: “Bây giờ xin các anh cho biết các anh đă giảng những ǵ?” Người lữ khách đáp: “Chúng tôi không giảng nhưng nói chuyện đơn sơ với một số người, như các người mời chúng tôi dùng cơm.” Cha hỏi tiếp: “Được rồi, nhưng các anh nói về những điều thiêng liêng nào? Đó là những điều chúng tôi muốn biết.” Người lữ khách đáp: “Có khi chúng tôi nói về nhân đức này hoặc nhân đức khác và khuyến khích người ta theo; có khi lại nói về các thói xấu khác nhau và lên án.” Cha lại nói tiếp: “Các anh không có học, mà lại nói về các nhân đức và các thói xấu! Người ta chỉ có thể nói về các đề tài đó hoặc v́ đă học hoặc v́ Chúa Thánh Thần soi sáng. Nhưng các anh không có học nên chỉ nói v́ có Chúa Thánh Thần soi sáng. Vậy chúng tôi muốn biết Chúa Thánh Thần đă soi sáng những ǵ?” Nghe vậy, I-Nhă bắt đầu dè dặt v́ nhận thấy cách lư luận đó không tốt. (Thánh I-Nhă dè dặt v́ cách lư luận đó cho thấy Cha phụ tá nghi ngờ họ theo phe lạc giáo Alumbrađô đă bị két án mấy năm trước (1623). Theo phe này th́ quan trọng hơn hết là kết hợp với Chúa Thánh Thần, khỏi cần theo chỉ thị của hàng giáo phẩm). Im lặng một lúc, ông lại nói không cần bàn thêm về vấn đề đó nữa. Nhưng Cha phụ tá nói tiếp: “Sao vậy? Trong lúc tư tưởng của ông Êrasmô và nhiều người khác đang đầu độc thiên hạ, th́ các anh lại không muốn biện minh cho giáo lư các anh dạy sao?”

 

66. Người lữ khách đáp dứt khoát: “Thưa Cha, tôi sẽ không nói ǵ thêm trừ khi các bề trên buộc tôi phải nói trước mặt các ngài.” Trước đó, Cha phụ tá có hỏi tại sao Calixtô lại ăn mặc như vậy. Anh ta mặc một chiếc áo ngắn, đội một chiếc nón rộng, cầm một cây gậy và chân đi giầy ống cao đến đầu gối. V́ anh này có vóc dáng cao nên càng có vẻ vụng về. Người lữ khách giải thích rằng tại sao ở Alcala họ đă bị bắt giam và được lệnh ăn mặc như sinh viên, nhưng v́ mùa nắng, anh bạn đă lấy áo rộng nhường cho một sinh viên nghèo. Nghe vậy, ông Cha nói lẩm bẩm có vẻ không bằng ḷng: “Bác ái th́ phải bắt đầu với bản thân chứ!”

            Nhưng để trở lại câu chuyện, thấy rằng không thể bắt người lữ khách nói thêm điều ǵ nữa, Cha phụ tá kết luận: “Được rồi, các anh sẽ ở lại đây. Chúng tôi sẽ t́m cách bắt các anh khai hết.” Lập tức các Cha vội vàng ra về. Trước đó, người lữ khách hỏi rằng họ sẽ ở lại trong nhà nguyện hay ở đâu, th́ Cha phụ tá nói phải ở lại nhà nguyện. Khóa tất cả các cửa rồi, các Cha đi thưa chuyện cùng các thẩm phán. Tuy nhiên, hai ông ở lại trong tu viện ba ngày, ăn uống tại pḥng cơm của các tu sĩ, nhưng không được biết ǵ về quyết định của các thẩm phán đối với họ.

            Pḥng hai ông ở luôn luôn có đông các tu sĩ đến thăm. Người lữ khách vẫn nói về các đề tài đạo đức như thói quen. H́nh như các tu sĩ chia làm hai phe, có nhiều người thông cảm với người lữ khách.

 

67. Sau ba ngày có lục sự đến đưa họ tới nhà giam. Họ không bị nhốt ở pḥng dưới với các phạm nhân thường. Nhưng ở trên lầu trong một pḥng cũ kỹ lâu năm không có ai ở nên hết sức dơ dáy. Cả hai bị xiềng chung bằng một cái xích, mỗi người bị buộc một chân, và cái xích bị buộc quanh cái cột ở giữa pḥng. Cái xích dài chừng hai thước rưỡi, mỗi khi một trong hai người làm ǵ th́ người kia cũng phải lết theo. Hôm đó hai người thức suốt đêm. Sáng sớm hôm sau, khi người ta biết tin hai người bị giam, th́ họ chở tới nhà giam giường ngủ và đủ mọi thứ đồ dùng cần thiết. Luôn luôn có nhiều người đến thăm và người lữ khách nói về Chúa và giúp đỡ họ.

            Ông Frias (có bằng tú tài) đến thẩm tra riêng mỗi người. Người lữ khách trao cho ông tất cả tập vở, tức là bản Linh Thao để ông xem xét. Khi được hỏi có bạn cùng nhóm không, th́ hai người trả lời có và chỉ chỗ họ ở. Lập tức theo lệnh của ông tú tài có người đi bắt và đưa vào nhà giam Caceres và Artêaga; cậu Juniatô không bị bắt, sau đó cậu đi tu. Hai người không bị nhốt ở pḥng trên, nhưng tại pḥng dưới với các phạm nhân khác. Lần này, người lữ khách vẫn không nhờ luật sư hay trợ tá toà án giúp đỡ.

 

68. Vài ngày sau, người lữ khách bị điệu đến trước mặt bốn thẩm phán, gồm ba tiến sĩ là: Santisiđôrô, Paravinhas, Frias và ông tú Frias. Cả bốn người xem xét bản Linh Thao và ḍ hỏi nhiều câu, không những về đề Linh Thao mà c̣n cả về những vấn đề thần học nữa. Thí dụ về Thiên Chúa Ba Ngôi và phép Thánh Thể, để xem hai ông hiểu biết như thế nào.

            Trước hết, người lữ khách xin lỗi với lời khai mở đầu. Tuy nhiên theo lệnh các thẩm phán ông nói rành mạch, các thẩm phán không thấy có điều ǵ đáng trách. Riêng ông tú Frias - trong vụ tra hỏi thường tỏ vẻ khắt khe hơn những người khác - hỏi thêm cách thức giải đáp thắc mắc về giáo luật. Hỏi bất cứ điều ǵ, người lữ khách vẫn giải đáp, nhưng mỗi lần, ông đều nói rằng ông không biết các tiến sĩ nghĩ như thế nào về các vấn đề ấy.

            Sau đó, họ bảo ông cắt nghĩa điều răn thứ nhất theo cách thức ông hay giảng dạy. Ông bắt đầu ngay và nói dài ḍng về điều răn này. Họ không c̣n muốn hỏi thêm điều ǵ nữa.

            Trước đó, khi hỏi về Linh Thao, họ hỏi nhiều lần về một điểm, và chỉ hỏi về điểm đó thôi. Tŕnh bày trong các phần đầu linh thao: “Một tư tưởng xấu, lúc nào là tội trọng, lúc nào là tội nhẹ?” Họ muốn xem ông không có học, làm sao quyết định được vấn đề đó. Ông trả lời: “Tôi nói phải hay trái, tùy các ông định liệu. Nếu tôi nói không phải th́ các ông cứ kết án lời tôi.” Cuối cùng họ được đưa về nhà giam và không ai bị kết án điều ǵ.

 

69. Trong số những người đến thăm người lữ khách tại nhà giam, một hôm có Cha Phanxicô Menđôza, hiện là Hồng Y thành phố Burgos, đi với ông tú Frias. Ông thân mật hỏi I-Nhă ở tù thấy làm sao, có lấy làm khó chịu không? I-Nhă trả lời: “Hôm nay có một bà thấy tôi ở tù, bà nói lời thương xót. Tôi có thể trả lời Cha như đă trả lời bà ấy rằng: Nói như vậy, bà chứng tỏ không thích ở tù v́ ḷng mến Chúa. Tù đâu phải là một tai họa. Nói thật với bà tại Salamanca có bao nhiêu xiềng xích, vẫn chưa đủ để tôi ao ước chịu đựng hầu tỏ ḷng mến Chúa.”

            Hồi đó, có một lần tất cả các tù nhân đều vượt ngục, trừ người lữ khách và người bạn không chịu vượt ngục. Sáng hôm sau, người ta thấy hai ông ngồi trước một cánh cửa mở toang không c̣n người nào khác. Vụ đó đă gây xôn xao trong thành phố, khiến nhiều người thán phục. Lập tức người ta dành cho họ cả một nhà lầu lớn gần đó làm nhà giam.

 

70. Sau khi bị tù hai mươi hai ngày, họ được mời để nghe bản án. Trong lối sống cũng như trong giáo lư của họ không t́m thấy lỗi lầm nào. Vậy họ được tiếp tục giảng dạy giáo lư và nói về Chúa như trước, với điều kiện không được bao giờ quả quyết: “Đây là tội trọng, đây là tội nhẹ.” Đó là thời gian bốn năm phải học thêm nữa.

            Sau khi đọc bản án, v́ muốn hai ông tuân theo, nên các thẩm phán tỏ ra rất ân cần với họ. Người lữ khách nói rằng: họ sẽ tuân phục bản án nhưng không đồng ư, bởi v́ mặc dù không lên án họ về điểm nào, nhưng ngăn cản không cho phép họ nói để giúp đỡ tha nhân theo khả năng của họ. Tiến sĩ Frias tỏ ra xúc động và cố gắng thuyết phục hai ông. Nhưng người lữ khách không bàn thêm điều ǵ nữa, chỉ nói rằng họ sẽ tuân theo bản án bao lâu c̣n trong địa phận Salamanca mà thôi.

            Ngay sau khi rời khỏi nhà giam, người lữ khách bắt đầu suy nghĩ và cầu nguyện xin Chúa chỉ cách giải quyết vấn đề. Ở lại Salamanca th́ ông sẽ gặp khó khăn: muốn giúp đỡ các linh hồn th́ gặp trở ngại v́ lệnh không cho quyết định đâu là tội trọng đâu là tội nhẹ.

 

71. Do đó ông quyết định đi Paris học. Tại Barcelôna, khi suy xét có nên học hành và học trong thời gian bao lâu. Tuy nhiên, vấn đề chính là, sau khi học xong, ông có nên đi tu hay đi khắp thiên hạ? Lúc có ư đi tu ông nghĩ ngay đến một ḍng nào suy đồi và chưa cải tổ, cốt là để gặp nhiều thử thách, đồng thời nghĩ có lẽ Chúa cũng sẽ giúp đỡ các tu sĩ, và Chúa cũng sẽ giúp ông tin tưởng và sẽ đủ nghị lực để chịu đựng mọi sỉ nhục và xúc phạm sẽ gặp phải.

            Suốt thời gian tại Salamanca, ông vẫn ao ước giúp đỡ các linh hồn. Và để làm việc đó, được học hành thêm cũng như qui tụ thêm một số bạn bè cùng chia sẻ lư tưởng đó, cùng với những người đă theo ông rồi. Sau khi quyết định đi Paris, ông điều đ́nh với các bạn để họ chờ tại chỗ trong khi ông đi xem có t́m được phương tiện để mọi người học hành được không.

 

72. Nhiều người có địa vị cố thuyết phục ông đừng đi nhưng vô ích. Lối chừng mười lăm, hai mươi ngày sau khi ra tù, ông lên đường một ḿnh kéo theo một con lừa nhỏ chở ít sách trên lưng. Tới Barcelôna, tất cả những người quen t́m cách thuyết phục ông đừng đi sang Pháp v́ chiến tranh đang diễn ra tại đó. Họ kể cho ông nghe nhiều chuyện cụ thể và c̣n nói rằng ở đó người ta nướng người Tây Ban Nha, nhưng ông không hề cảm thấy sợ sệt.

 

 

 

 

 

Chương 8

Những Năm Đại Học và

Những NGười Bạn Tiên Khởi

1528 - 1535

 

73. Vậy I-Nhă lên đường đi bộ đến Paris. Ông tới nơi vào lối tháng hai, theo ông kể chuyện th́ đó là vào năm 1528 hoặc 1527. Ông trọ ở một căn nhà với một người Tây Ban Nha và đi học trung học tại trường Montague. Ông học lại chương tŕnh trung học là v́ hồi trước ông đă học quá vội, thiếu căn bản. Ông học chung với trẻ em theo phương pháp và chương tŕnh áp dụng tại Paris.

            Tại Barcelôna, có người đă cấp cho người lữ hành một chi phiếu, nhờ đó, tại Paris, một thương gia trả cho I-Nhă 25 đồng tiền vàng. Ông gửi số tiền này nơi một người Tây Ban Nha ở nhà trọ. Ít lâu sau người này tiêu xài hết tiền và không có tiền trả. Thế là hết, Mùa Chay người lữ khách không c̣n một xu dính túi, v́ chính ông cũng đă tiêu chút đỉnh rồi và v́ lư do trên, ông phải ăn xin và rời khỏi nhà trọ luôn.

 

74. Ông được tiếp đón tại nhà thương Thánh Giacôbê, bên kia nhà thờ các Thánh Anh Hài. Đối với việc học hành th́ trọ ở nhà thương rất bất tiện. V́ nhà thương cách trường học khá xa. Buổi chiều muốn vào kịp trước khi khóa cổng th́ phải về trước giờ Kinh Truyền Tin, và buổi sáng th́ phải sáng hẳn rồi mới được ra ngoài. Do đó, ông không thể dự tất cả các giờ học đầy đủ, lại phải thêm một khó khăn nữa là c̣n phải xin ăn để sống.

            V́ từ gần năm năm nay không c̣n đau dạ dày nữa, I-Nhă lại sống khắc khổ và ăn chay. Ông trọ tại nhà thương và xin ăn một thời gian, nhưng thấy không mấy tiến bộ trong việc học hành, I-Nhă liền bắt đầy suy nghĩ xem phải làm ǵ. Thấy một số sinh viên vừa học vừa giúp việc cho các giáo sư quản lư các trường học, ông quyết định đi t́m một người mướn ông.

 

75. Ông tính toán và nghĩ bụng - điều này làm ông phấn khởi - sẽ coi giáo sư là Chúa Kitô, và trong số các học sinh, ông sẽ coi người này là Thánh Phêrô, người kia là Thánh Gioan, v. v. mỗi người là một Tông đồ. Ông nghĩ khi giáo sư sai bảo điều ǵ ông sẽ nghĩ đó là lệnh của Chúa Kitô; khi nguời khác nói ǵ th́ ông nghĩ đó là lời của Thánh Phêrô, Gioan. Ông rất lo lắng đi t́m việc làm, nhờ ông Castro, một tu sĩ thuộc đan viện Cartusiô quen biết nhiều giáo sư, và nhờ một số người khác nữa.

 

76. Sau cùng, v́ không t́m được việc ǵ, một tu sĩ gốc Tây Ban Nha góp ư kiến cho I-Nhă mỗi năm đi tới xứ Flandres, ở lại đó hai tháng hoặc ít hơn, để quyên tiền sống suốt niên học. Sau khi cầu nguyện, ông thấy giải pháp này hay. Ông đi và mỗi năm đem về được một số tiền đủ để sống thanh bần. Có một năm ông qua nước Anh và quyên về được nhiều hơn các năm trước.

 

77. Sau khi đi xứ Flandres về lần đầu, I-Nhă lại tiếp tục các cuộc đối thoại thiêng liêng hăng hái hơn trước. Đồng thời hướng dẫn Linh Thao cho ba người tên là Pêralta, Castro và một người khác gốc Bascô tên là Amador đang ở trường Thánh Barbara. Cả ba người này thay đổi sâu xa. Họ phân phát tất cả của cải cho người nghèo, kể cả sách học nữa và bắt đầu đi ăn xin khắp thành phố Paris, ở những nơi người lữ khách trước đây đă ở, như đă kể trên. Vụ này gây xôn xao viện đại học, bởi v́ hai người này trước đây có địa vị cao và được nhiều người biết đến. Những người Tây Ban Nha bắt đầu chống đối những người đó, sau khi đưa ra nhiều lư lẽ thuyết phục hai người trở về đại học nhưng vô ích. Thế rồi cả một đám người cầm vũ khí đến nhà thương lôi hai người ra, kéo về đại học và bảo rằng sau khi học xong mới được thực hiện ư định đó.

 

78. Một thời gian sau, Castro trở về Tây Ban Nha giảng tại Burgos và cuối cùng tu ḍng Cartusiô tại Valencia. Pêralta th́ đi hành hương tới Giêrusalem, nhưng khi đi qua Italia th́ gặp một người bà con là sĩ quan trong quân đội, ông liền bị bắt đem đến Tư Dinh Đức Giáo Hoàng và được lệnh trở về Tây Ban Nha. Việc này xảy ra mấy năm sau chứ không phải ngay thời đó.

            Tại Paris, có nhiều người nói xấu người lữ khách, đặc biệt trong giới người Tây Ban Nha. Giáo sư Gouvera cho hay rằng v́ đă làm cho Amador ra điên, nên lần sau I-Nhă đến trường Thánh Barbara, ông sẽ bị “đánh đ̣n công khai” v́ tội mê hoặc học tṛ.

 

79. Người Tây Ban Nha đă trọ cùng I-Nhă lúc ban đầu, và đă tiêu hết tiền của ông không trả nổi, lên đường về Tây Ban Nha qua đường phố Rouen. Đang khi chờ tàu nhổ neo th́ ông lâm bệnh. Người lữ khách hay tin qua một lá thư ông gửi, và nẩy ư muốn đi thăm và giúp đỡ ông này, hy vọng rằng nhờ dịp này có thể lôi kéo ông ta bỏ thế gian, để hoàn toàn phục vụ Thiên Chúa.

            Để được ơn đó, I-Nhă có ư muốn đi bộ từ Paris tới Rouen, khoảng 25 dặm, đi chân không, nhịn ăn uống. Lúc cầu nguyện về ư muốn này ông cảm thấy sợ sệt. Sau cùng ông vào nhà thờ Thánh Đa Minh cầu nguyện và nhất quyết lên đường theo dự định và không c̣n sợ là làm như vậy là thử thách Thiên Chúa nữa.

            Sáng hôm sau, ngày lên đường, ông thức dậy và khi bắt đầu mặc quần áo, ông cảm thấy run sợ đến nỗi không mặc nổi áo. Dù kinh hăi như vậy ông lên đường và rời khỏi thành phố khi trời vừa sáng. Ông vẫn sợ sệt cho đến khi đến ấp Argenteuil, cách Paris lối chừng hai dặm, ở đó theo tục truyền có giữ áo Chúa Giêsu. Sau khi đi qua ấp này và bắt đầu leo đồi, th́ cơn thử thách tiêu tan. I-Nhă cảm thấy hết sức phấn khởi đến độ ông gào thét và nói chuyện với Chúa trên cánh đồng.

            Ngày hôm đó, sau khi đi mười bốn dặm, ông ở nhà thương với một người ăn mày; ngày thứ hai ngủ trên một đống rơm và ngày thứ ba tới Ruen. Suốt ba ngày, ông không ăn uống và đi chân không, như đă quyết định. Tại Ruen ông an ủi người bệnh, giúp ông ta lên tàu trở về Tây Ban Nha và viết thư giới thiệu ông ta với các bạn ở Salamanca tức là Calixtô, Caceres và Arteaga.

 

80. Về những người bạn này, xin kể vắn tắt về họ. Trong thời gian ở Paris, theo như đă điều đ́nh với nhau, người lữ khách viết thư cho họ nhiều lần và tŕnh bày vấn đề khó t́m cách cho họ tới Paris học hành.  Ông c̣n viết thư gửi bà Lêônor Mascarenhas nhờ bà giới thiệu Calixtô đến triều đ́nh vua Bồ Đào Nha để anh ta kiếm được học bổng theo chương tŕnh cấp học bổng tại Paris của Vua Bồ Đào Nha. Bà Lêônor cấp cho Calixtô thư giới thiệu và tiền bạc tiêu sài.

            Calixtô tới triều đ́nh vua Bồ Đào Nha, nhưng cuối cùng không đi tới Paris, trái lại anh trở về Tây Ban Nha và đi Châu Mỹ thuộc quyền Hoàng Đế với một phụ nữ đạo đức. Ông trở về Tây Ban Nha rồi lại đi Châu Mỹ lần thứ hai, khi trở về th́ giầu to, mọi người quen anh ta trước kia đều ngạc nhiên.

            Caceres trở về quê ở Segovia và bắt đầu sống như đă quên hẳn ư định tốt lành trước kia.

            Artêga th́ được phong chức huân tước. Về sau khi có ḍng tại Roma rồi, ông được phong chức Giám Mục và được trao phó cho một địa phận tại Châu Mỹ. Ông viết thư gửi người lữ khách và xin nhường địa phận đó cho một anh em trong ḍng. Sau khi nhận được thư từ chối, ông chịu chức Giám Mục và đi Châu Mỹ. Cuối cùng ông chết cách bất ngờ. Số là khi đang nằm trên giường bệnh, có hai chai nước, một chai đựng nước uống theo lệnh y sĩ, c̣n chai kia đựng thuốc độc. Người ta lấy lầm chai và đưa cho ông uống thuốc độc khiến ông chết.

 

81. Lúc đi Rouen trở về Paris, người lữ khách thấy người ta xôn xao rất nhiều về ḿnh, do câu chuyện liên can đến Castro và Pêralta, và nghe rằng viên thanh tra đă tỏ ư muốn gặp ông. Ngay tức khắc, người lữ khách t́m gặp ông thanh tra và nói rằng h́nh như ông đă được mời đến, và sẵn sàng tuân theo lệnh ông thanh tra nếu ông có ǵ dạy bảo. Tuy nhiên, ông xin giải quyết vấn đề mau chóng, và mong rằng vụ này sẽ kết thúc trước ngày lễ Thánh Rêmy là ngày khai giảng. Ông có ư định ghi tên đại học và mong vụ đó sớm kết thúc để tập trung vào việc học. Tuy nhiên, viên thanh tra không gọi I-Nhă nữa, nhưng chỉ nói rằng đă có người kể cho ông ta nghe về công việc của I-Nhă.

 

82. Ít lâu sau là lễ Thánh Rêmy, tức là ngày đầu tháng mười, I-Nhă bắt đầu học với một ông thày tên là Gioan Pêna. Lúc đó ông có ư duy tŕ nhóm người đă quyết tâm phụng vụ Thiên Chúa, nhưng không muốn t́m thêm người để tiện việc học hành.

            Khi bắt đầu đi học, ông lại bị thử thách như khi c̣n học tiểu học tại Barcêlôna. Mỗi lần nghe giảng ông không thể tập trung được v́ các tư tưởng đạo đức dồi dào đến với ông. Thấy học như thế không có lợi ích bao nhiêu, ông tới gặp giáo sư và hứa sẽ không bao giờ bỏ một giờ học nào bao lâu c̣n kiếm được bánh ḿ ăn và nước uống đủ sống. Sau khi hứa như thế, tất cả các tư tưởng đạo đức đến với ông vào các lúc bất lợi đều tiêu tan, và ông có thể tiếp tục học hành đều đặn.

            Thời đó ông thường nói chuyện vói hai cử nhân Phêrô Fabre và Phanxicô Xavier. Về sau, qua Linh Thao ông thuyết phục được hai ông này quyết tâm phục vụ Thiên Chúa.

            Hồi đó, không ai làm khó dễ I-Nhă như trước. Có lần tiến sĩ Fragô nói với ông là ông lấy làm lạ v́ thấy ông rất b́nh thản không bị ai gây khó khăn ǵ, th́ ông trả lời: “Đó là v́ tôi không nói với ai về đời sống thiêng liêng; nhưng một khi học xong chúng tôi sẽ tiếp tục như cũ.”

 

83. Hai ông đang nói chuyện với nhau th́ có một tu sĩ đến xin tiến sĩ Fragô kiếm giùm một căn pḥng. V́ tại nhà ông trọ, đang có nhiều người chết, có lẽ v́ dịch hạch thời đó đang lan tràn tại Paris. Tiến sĩ Fragô và người lữ khách muốn đi xem nhà đó và mời một phụ nữ có kinh nghiệm đi theo họ. Bà vào nhà quan sát một lát th́ nói là dịch hạch.

            Người lữ khách cũng vào nhà, thấy có một người nằm đau th́ an ủi người ta, và tay đụng đến vết thương của người ấy, một lúc sau ra về một ḿnh. Tự nhiên tay ông bắt đầu đau như đă bị mắc dịch hạch. Cảm tưởng này in sâu vào tâm trí ông đến độ không thể thoát nổi, cho đến khi ông cương quyết đút tay vào miệng và xoay đi xoay lại nhiều lần, tự nhủ rằng nếu tay bị mắc dịch hạch th́ bây giờ cho miệng mắc luôn xem sao. Sau khi làm như vậy, ông hết c̣n cảm tưởng mắc bệnh và tay hết đau.

 

84. Tuy nhiên, lúc về trường Thánh Barbara nơi ông đang trọ và học, người nhà biết ông đă vào căn nhà có dịch hạch th́ tránh xa ông và không muốn ông vào nhà. Ông phải ngủ ở ngoài mấy ngày. Theo phong tục tại Paris, các sinh viên đại học năm thứ ba muốn lấy bằng Tú Tài th́ phải “lấy đá” như họ nói. V́ muốn “lấy đá” phải mất một số tiền, nên sinh viên không lấy nổi. Người lữ khách do dự có nên lấy hay không. V́ không quyết định được nên ông nhờ Giáo Sư giúp ư kiến. Giáo sư khuyên ông lấy th́ ông lấy. Tuy nhiên, vẫn có người chỉ trích ông, ít nhất một người Tây Ban Nha để ư đến việc đó.

            Hồi đó tại Paris, I-Nhă bắt đầu đau dạ dày rồi. Cứ mười lăm ngày ông lại đau và kéo dài suốt hơn một tiếng. Có lần ông đau suốt mười sáu, mười bảy tiếng. Hồi đó ông đă học hết trung học, vài năm đại học và qui tụ được một số bạn bè th́ bệnh t́nh trở nên càng ngày càng trầm trọng, không t́m được cách nào chữa trị, mặc dù đă thử nhiều cách.

 

85. Các y sĩ nói rằng chỉ có khí hậu ở quê nhà mới có thể giúp ông khỏi bệnh. Các bạn bè cũng bảo như thế và khuyên ông về quê.      

            Hồi đó tất cả các bạn bè đă quyết định họ sẽ làm ǵ. Họ sẽ đi Vênêzia và từ đó sẽ đến Giêrusalem. Nếu không được phép ở lại Giêrusalem họ sẽ trở về Roma tŕnh diện vị đại diện Chúa Kitô để Ngài sai họ làm việc những nơi Ngài nhận thấy Thiên Chúa sẽ được vinh quang hơn và các linh hồn được lợi ích hơn. Họ cùng đồng ư, tại Vênêzia, họ sẽ chờ tàu một năm, nếu trong năm đó không có tàu đi Trung Đông, họ sẽ không bị ràng buộc bởi lời khấn đi Giêrusalem nữa, và sẽ tŕnh diện Đức Giáo Hoàng.

            Cuối cùng người lữ khách chiều ư các bạn. V́ có một số bạn gốc Tây Ban Nha cần giải quyết một số vấn đề nên ông t́nh nguyện lo giùm. Rồi họ điều đ́nh vói nhau rằng: Sau khi I-Nhă khỏi bệnh, sẽ lo giải quyết các vấn đề đó rồi tới Vênêzia chờ các bạn tại đó.

 

86. Đó là vào năm 1535, và theo dự định của các bạn th́ ông sẽ lên đường vào năm 1537 vào ngày lễ Thánh Phaolô Trở Lại. Tuy nhiên chiến tranh lại bùng nổ và ông phải lên đường vào tháng 11 năm 1536. Truớc khi lên đường, I-Nhă nghe biết rằng, có người tố cáo với các thẩm phán với những lời cáo buộc chống lại ông. Biết được sự kiện, mặc dù người ta đă không nhắm đích danh ông, ông vẫn đích thân đến viên thẩm phán và bảo ông này về những ǵ ông đă nghe, về cuộc hành tŕnh ông sắp đi và về các bạn của ông. Vậy ông xin các thẩm phán một bản án. Ông thẩm phán nói rằng ông cũng có nghe những điều cáo buộc nhưng chẳng thấy có ǵ là quan trọng. Ông chỉ muốn xem những ǵ I-Nhă đă viết, tức là bản Linh Thao. Khi xem xong, ông nhiệt liệt khen ngợi, và xin một bản như người lữ hành đă đưa cho ông. Mặc dù vậy, người lữ hành vẫn khẩn khoản xin ông ta một bản án. V́ ông thẩm phán từ chối nên người lữ khách lại trở lại nhà của ông này với vài nhân chứng và viên chưởng khế để làm biên bản chứng thực sự kiện.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 9

Về Thăm Quê Nhà

1535

 

87. Xong việc, các bạn mua cho I-Nhă một con ngựa và cho ông cỡi ngựa một ḿnh. Trên đường đi ông thấy khoẻ hơn nhiều. Tới quê hương Guipuzcoa, ông bỏ đường cái và rẽ vào một con đường vắng vẻ hơn. Đi một quăng, ông gặp hai người cầm vũ khí tiến về phía ông (đường này có tiếng nhiều kẻ cướp). Đi ngang qua ông một quăng xa, hai người đó lại hấp tấp trở lại đuổi theo ông khiến ông hơi sợ. Dù vậy, ông hỏi thăm ra th́ mới biết họ là gia nhân của ông anh đến đón ông về. H́nh như khi ông tới thành Bayonne bên Pháp, có người nhận ra ông và báo tin cho ông anh. Rồi gia nhân chạy trước và I-Nhă đi theo sau trên cùng một con đường. Lúc sắp đến quê nhà, I-Nhă gặp hai người tới đón ông và nài ép ông vào nhà ông anh, nhưng ông không chịu. Ông vào ở trong nhà thương và lúc thuận tiện ông đi ăn xin trong vùng đó.

 

88. Tại nhà thương, có nhiều người đến thăm ông. Ông nói chuyện vớùi họ về Thiên Chúa. Nhờ ơn Chúa ông đă gặt hái được nhiều kết quả. Ngay lúc tới nơi ông đă quyết định dạy giáo lư cho trẻ em. Nhưng ông anh chống đối kịch liệt và bảo rằng sẽ chẳng có ai đến học. Ông trả lời là nếu chỉ có một đứa thôi cũng đủ. Sau khi bắt đầu, th́ luôn luôn có nhiều người đến học, và cả ông anh nữa. Ngoài việc dạy giáo lư vào các ngày Chủ Nhật và Lễ Trọng, ông c̣n giảng cho mọi người từ các nơi xa nhiều dặm đến nghe ông giảng và xin ông giúp đỡ linh hồn họ. Ngoài ra ông c̣n cố gắng sửa một số tệ đoan. Nhờ ơn Chúa, ông dàn xếp được vài chuyện. Thí dụ như thuyết phục được người giữ an ninh áp dụng được biện pháp để cấm đánh bài.

            C̣n một tệ đoan nữa như sau. Các cô gái chưa chồng tại miền đó không bao giờ đội khăn, chỉ khi nào lấy chồng mới được đội. Nhưng có nhiều cô sống chung với linh mục, hay những người khác như là vợ của họ. Việc đó coi như cơm bữa đến nỗi những cô đó không mảy may hổ thẹn c̣n nói công khai họ đội khăn v́ người nọ, người kia, và mọi người đều biết như thế.

 

89. Phong tục đó gây nhiều tai hại. Người lữ khách thuyết phục tỉnh trưởng, và xin ông ra lệnh để tất cả các phụ nữ đội khăn, nếu không phải là vợ chính thức, th́ sẽ bị phạt theo luật. Nhờ đó mà tệ đoan trên mới bớt dần. Đối với người nghèo, ông được chính quyền cung cấp thường xuyên cho họ. Ông dạy thêm rằng: Ba lần trong ngày tức là sáng, trưa, chiều nên kéo chuông “Kính Mừng” để nhắc dân chúng cầu nguyện theo phong tục tại Roma.

            Lúc đầu I-Nhă cảm thấy khoẻ mạnh, nhưng về sau lại đau nặng. Khoẻ lại ông quyết định đi lo công việc mà các bạn giao phó. Ông đi bộ mà không đem theo một đồng xu nào. Ông anh thấy vậy, th́ vừa bất b́nh vừa xấu hổ. Tuy nhiên, vào buổi chiều I-Nhă bằng ḷng cho ông anh và bà con đi theo ông cỡi ngựa đến ranh giới tỉnh.

 

90. Qua ranh giới tỉnh, ông xuống ngựa, không lấy ǵ của bà con và đi bộ hướng về Pamplôna. Ông ghé Almazan, quê của Laynez, rồi Saigonuenza, Tolêđô và Valencia. Mặc dù mỗi nơi quê của các bạn, người ta nài nỉ ông nhận nhiều món quà, nhưng ông không lấy ǵ hết. Tại Valencia, ông gặp Castro, tu ḍng Cartusiô. Khi ông tỏ ư muốn lên tàu đi Gênôva, nhiều người đạo đức tại Valencia căn dặn ông không nên đi v́ trên biển có tên giặc Râu Đỏ hoành hành bằng nhiều tàu. Mặc dù người ta kể nhiều câu chuyện cố ư để ông sợ không dám đi, nhưng ông vẫn không do dự chút nào.

91. Ông lên một con tàu và gặp băo như đă kể trước, khi ông suưt chết ba lần. Tới thành phố Gênôva, ông lên đường đi Bologna. Trong chuyến này ông gặp nhiều gian khổ, đặc biệt lúc lạc đường. Ông rẽ vào một con đường ở ven sông, đường th́ trên cao c̣n sông th́ ở dưới thung lũng, càng tiến tới th́ đường càng hẹp cho đến một lúc không tiến tới được nữa, mà lùi th́ cũng không nổi. Vậy ông bắt đầu ḅ, ông phải ḅ một khúc dài, mỗi lần nhích lên ông rất sợ té xuống sông. Trong đời ông, đó là lúc gian khổ nhất về thể xác mà ông gặp phải, nhưng cuối cùng ông cũng thoát được.

            Sắp sửa vào thành phố Bologna, đi qua một chiếc cầu gỗ nhỏ, ông lại té xuống. Lúc chỗi dậy ông ướt hết và đầy bùn từ đầu đến chân, khiến cho nhiều người qua lại gần đó cười rộ. Vào thành phố ông bắt đầu đi xin ăn. Nhưng mặc dù đi khắp cả thành, ông không kiếm được đồng xu nào. Ông ở lại Bologna một thời gian v́ bị đau ốm, rồi ông lại lên đường đi Vênêzia, và vẫn đi bộ như thường lệ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 10

Chờ Đợi Hành Hương Đất Thánh

1535 - 1537

 

92. Thời đó tại Vênêzia, I-Nhă tập trung vào việc hướng dẫn Linh Thao và nói về các đề tài thiêng liêng. Trong số những người đáng nhớ nhất đă tập Linh Thao có ông cử nhân Phêrô Cantarênô, ông cử nhân Gasparô Doctis và một người Tây Ban Nha nữa là ông tú Hoces. Ông này hay đến nói chuyện với người lữ khách và cả Giám Mục thành Chieti cũng vậy. Dù thích tập Linh Thao, ông này vẫn trù trừ. Cuối cùng ông quyết định bắt đầu, và sau ba, bốn ngày, ông thú thật với người lữ khách rằng sợ trong Linh Thao sẽ dạy ông một giáo thuyết nào không tốt theo lời một người nào đó đă nói với ông như vậy. V́ thế ông đem theo một số sách để tiện tra cứu trong trường hợp I-Nhă dẫn ông đi lạc hướng. Ông này tập linh thao có kết quả đáng kể và cuối cùng quyết định theo lối sống của người lữ khách. Trong số các bạn đồng hành, ông này là người qua đời trước tiên.

 

93. Tại Vênêzia, người lữ khách lại bị chống đối v́ có tin đồn rằng h́nh nộm của ông bị đốt tại Tây Ban Nha và Paris. Tiếng đồn này lan tràn đến nỗi người lữ khách lại phải ra ṭa nhưng bản án lại bênh vực ông.

            Chín người bạn đă tụ họp tại Vênêzia vào đầu năm 1537 và chia nhau giúp việc tại các nhà thương. Hai, ba tháng sau tất cả lên đường đi Roma nhận phép lành của Đức Thánh Cha để đi Giêrusalem. Tuy nhiên, người lữ khách không đi v́ ở đó có tiến sĩ Ortiz và Hồng Y Têatinô. Nhóm các bạn đem theo chi phiếu 200 hoặc 300 đồng bạc mà người ta đă cho để đi Giêrusalem. Họ không lấy tiền mặt nhưng chỉ lấy chi phiếu thôi. Về sau, v́ không đi Giêrusalem được, họ trả lại các chi phiếu. Họ trở về Vênêzia như lúc đi, họ đi làm ba nhóm, vừa đi vừa xin ăn. Mỗi nhóm có những người thuộc các quốc tịch khác nhau. Tại Vênêzia, những người chưa làm linh mục th́ được chịu chức thánh do giấy phép của Sứ Thần Toà Thánh tại Vênêzia tên là Vêrallô, về sau lên Hồng Y. Họ chịu chức với tư cách tu sĩ khó nghèo và khấn khiết tịnh nghèo khó.

 

94. V́ năm đó chính quyền Vênêzia đă đoạn giao với đế quốc Thổ Nhĩ Ḱ, nên không có tàu nào đi Trung Đông. Thấy không có hy vọng đi Giêrusalem trong một tương lai gần, nên các bạn đă chia nhau đi các vùng xứ Vênêzia mà chờ một năm như đă dự định trước kia; hết một năm mà vẫn không có tàu th́ họ sẽ đi Roma.

            Người lữ khách trúng thăm đi Vicenza với Favre và Laynez. Tại đó, họ t́m được một căn nhà ở ngoài thành phố, không có cửa lớn và cửa sổ, họ kiếm ít rơm về làm giường ngủ. Mỗi ngày hai lần hai người đi vào thành phố xin ăn, nhưng kiếm được rất ít, khó mà đủ sống. Họ thường ăn bánh ḿ khô khi kiếm được, người nào ở nhà th́ lo nấu bánh ḿ. Họ sống theo kiểu đó trong bốn mươi ngày, chỉ lo việc cầu nguyện mà thôi.

 

95. Sau bốn mươi ngày, ông cử nhân Gioan Coduri về tới và cả bốn người quyết định bắt đầu giảng. Vậy cùng ngày và cùng giờ, bốn ông vào thành phố, mỗi ông vào phố chợ và bắt đầu lớn tiếng vừa gọi dân chúng vừa lấy nón ra hiệu mời họ tập họp nghe lời giảng. Nhờ các bài giảng mà người ta biết tiếng họ, trở nên đạo đức và cung cấp cho họ phương tiện vật chất dồi dào hơn trước.

            Suốt thời gian ở Vicenza, người lữ khách có nhiều thị kiến thiêng liêng và thấy phấn chấn gần như thường xuyên, khác với thời gian ở Paris. Đặc biệt trong thời gian chuẩn bị chịu chức và dâng Lễ tại Vênêzia, cũng như trong các chuyến đi đây đó, nhiều lần ông được các vị khách từ trời viếng thăm, giống như khi ở Manrêsa.

            Khi ở Vicenza, hay tin một người bạn ở Bassanô đau nặng sắp chết, mặc dù chính ông lúc đó bị sốt, I-Nhă vẫn lên đường. Ông đi rất nhanh khiến Favre khó khăn lắm mới đi theo kịp. Trong chuyến đi, ông được Thiên Chúa bảo đảm người bạn ông sẽ không chết v́ bệnh đó, ông nói như vậy với Favre. Ông tới Bassanô th́ bệnh nhân được an ủi lắm và chẳng bao lâu th́ khoẻ lại. Sau đó, tất cả các bạn tập họp tại Vicenza. Cả mười người ở chung với nhau trong một thời gian và họ đi ăn xin tại các làng xă gần đó.

 

96. Hết năm chờ tàu, mà không đi được nên các bạn đồng hành quyết định đi Roma. Lần này người lữ khách cũng đi, như lần trước khi các bạn đi Roma, hai người mà họ e ngại lại tỏ ra ân cần với họ. Họ chia làm ba, bốn nhóm. Người lữ khách đi với Favre và Laynez. Trong chuyến này, ông được Thiên Chúa thăm viếng một cách hết sức đặc biệt.

            Ông đă quyết định sau khi chịu chức linh mục, sẽ không làm lễ suốt một năm, để chuẩn bị và cầu xin Đức Mẹ đặt ông đến cùng Chúa Con. Một hôm khi c̣n cách xa Roma mấy dặm, đang khi cầu nguyện trong một nhà thờ, ông nhận thấy một sự thay đổi lớn lao trong tâm hồn, và thấy rơ ràng Chúa Cha đặt ông cùng Chúa Kitô, con của Ngài. Ông không thể nào nghi ngờ điều đó chỉ biết rằng Chúa Cha đặt ông cùng Chúa Con.

     

97. Rồi lúc tới Roma, ông nói với các bạn ông thấy các cửa đều đóng lại, có ư muốn nói rằng tại đó, họ sẽ bị chống đối nhiều. Ông nói thêm: “Chúng ta nên thận trọng, không tiếp xúc với phụ nữ, trừ người quí phái.” Nói về vấn đền này th́ sau này Phanxicô thường giải tội cho một phụ nữ, và đôi khi đi thăm bà để hướng dẫn về đời sống đạo đức. Sau một thời gian bà mang thai. Nhưng nhờ ơn Chúa, người ta t́m ra được thủ phạm. Gioan Coduri cũng gặp phải một chuyện tương tự, khi một cô, con thiêng liêng của ông bị bắt quả tang đang ăn ở với một ông đàn ông.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 11

Năm Đầu Tại Kinh Thành Muôn Thủa Roma

1538

 

98. Từ Roma, người lữ khách đi Monte Cassinô để hướng dẫn Linh Thao cho tiến sĩ Ortiz và ở lại đấy bốn mươi ngày. Trong thời gian đó, một hôm ông thấy Hoces đang vào Thiên đàng, th́ ông thấy tâm hồn phấn khởi hết sức và nước mắt tràn ra. Nếu nói khác, ông nhận thấy đó là nói dối. Từ Monte Cassinô trở về, ông đem theo Phanxicô Estrađa. Về Roma, ông ra sức giúp đỡ các linh hồn. Thời đó, các bạn c̣n ở lại vườn nho, ông hướng dẫn Linh Thao cho một số người cùng một lúc. Trong đó, có một người ở gần nhà thờ Đức Bà Cả và một người ở gần cầu Sixtô.

            Sau đó ông bắt đầu gặp chống đối, và Miguel bắt đầu gây rắc rối nói xấu người lữ khách. I-Nhă làm cho ông ta bị ra toà trước mặt Tổng Trấn và tŕnh cho ông này coi một lá thư của Miguel, trong đó có nhiều lời ca tụng người lữ khách. Ông Tổng Trấn điều tra về Miguel và cuối cùng đuổi ông này ra khỏi Roma. Sau đó đến lượt Muđarra và Berrêđa. Họ rêu rao rằng người lữ khách cùng các bạn đă phải trốn khỏi Tây Ban Nha, Paris và Vênêzia. Cuối cùng, trước mặt ông Tổng Trấn và Sứ Thần lúc đó đang ở Roma, cả hai đều xác nhận nhóm các bạn đều không thấy có ǵ đáng chỉ trích về lối sống cũng như về giáo lư. Ông Sứ Thần ra lệnh chấm dứt vụ đó, nhưng I-Nhă không bằng ḷng, và đ̣i phải có bản án đàng hoàng.

            Điều này đă làm phật ḷng ông Sứ Thần, ông Tổng Trấn và những người lúc trước đă ủng hộ người lữ khách. Cuối cùng, vài tháng sau Đức Giáo Hoàng trở về Roma. Người lữ khách đi gặp Đức Thánh Cha tại Frascati và tŕnh bày mọi lư lẽ. Đức Thánh Cha trực tiếp lo vấn đề và ra lệnh cho làm bản án; bản án ủng hộ I-Nhă. Tại Roma, người ta thực hiện một số việc bác ái với sự giúp đỡ của người lữ khách và các bạn, như việc dạy đạo tại nhà Thánh Marta, và nhà các cô nhi. C̣n về những chuyện khác Nadal có thể kể thêm.

 

99. Sau khi kể tất cả các việc trên, ngày 20 tháng 10 tôi đă hỏi người lữ khách về Linh Thao và hiến pháp để t́m hiểu Cha đă soạn thảo hai tài liệu đó như thế nào. Cha trả lời Linh Thao không được soạn liên tục, nhưng mỗi lần Cha nhận xét thấy điều ǵ trong tâm hồn có ích lợi và có thể giúp được người khác, th́ Cha viết ra, thí dụ cách thức ghi việc xét ḿnh trên các vạch ngang. Riêng về cách chọn lựa, Cha đă nói với tôi rằng Cha đă rút ra từ những thay đổi trong tâm hồn và tư tưởng từ khi c̣n ở Loyola, lúc c̣n đau chân. Về hiến pháp Cha nói tối nay sẽ kể chuyện.

            Ngày hôm đó, trước cơm tối Cha gọi tôi. Cha có vẻ như đang cầm trí hơn lúc b́nh thường, và một lúc lâu như là để thanh minh, Cha nói rằng: khi kể các chuyện trên, Cha chỉ có ư ngay lành và đơn sơ, và bảo đảm chắc chắn Cha không thêu dệt thêm điều ǵ. Cha nói thêm rằng từ khi bắt đầu phụng sự Chúa, Cha đă xúc phạm đến Chúa nhiều lần, nhưng không bao giờ Cha cố ư phạm tội trọng mà trái lại Cha càng thêm sốt sắng, nghĩa là ngày càng t́m thấy Chúa dễ dàng. Lần nào, lúc nào muốn gặp Chúa, Cha được gặp ngay. Lúc này, Cha vẫn có nhiều thị kiến đặc biệt như đă kể trước, thấy Chúa Kitô như h́nh mặt trời. Cha hay thấy các thị kiến này như khi Cha bàn luận về các công việc quan trọng: thị kiến này chuẩn xác các quyết định.

 

100. Lúc làm Lễ hay có thị kiến và khi soạn thảo hiến pháp th́ có nhiều thị kiến. Điều này có thể xác định chắc chắn, bởi v́ mỗi ngày Cha đều viết ra những biến chuyển trong tâm hồn và hiện giờ có đủ các tài liệu đó trong tay. Vậy Cha cho tôi thấy một chồng giấy khá lớn và đọc cho tôi nghe một phần đáng kể. Phần nhiều diễn tả các thị kiến xác chuẩn những điều lệ trong hiến pháp, có khi thấy Chúa Cha, có khi cả Ba Ngôi, có khi Đức Mẹ đang cầu bầu hoặc đang xác chuẩn các điều lệ.

            Cha kể chuyện đặc biệt về các điều lệ đă quyết định sau khi làm Lễ mỗi ngày suốt bốn mươi phút, mỗi lần chảy rất nhiều nước mắt: Đó là vấn đề các nhà thờ của ḍng có nên có nguồn lợi riêng không?

 

101. Lúc soạn hiến pháp Cha thường áp dụng phương pháp dưới đây: Mỗi ngày, Cha dâng Lễ, tŕnh bày ư định điều lệ đang viết và cầu nguyện về điều đó. Mỗi lần dâng Lễ và cầu nguyện th́ không cầm được nước mắt.

            Tôi mong nh́n xem tất cả các giấy tờ viết về Hiến Pháp, và xin Cha để cho tôi xem một thời gian, nhưng Cha không cho.